Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thế nào?

Trên thực tế, nhiều vợ chồng có nhu cầu sinh con nhưng chưa thể thực hiện được vì lí do sức khỏe phải nhờ đến sự tiến bộ của y học. Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm đã giúp các cặp vợ, chồng có cơ hội có con, mang lại niềm vui, hạnh phúc cho họ. Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được thực hiện dựa trên sự hướng dẫn về chuyên môn của các cơ quan có thẩm quyền và phù hợp với quy định của pháp luật.

Theo đó, việc xác định cha, mẹ của con sinh bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

Điều 93. Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

1. Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này.

2. Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra.

3. Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra.

4. Việc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được áp dụng theo quy định tại Điều 94 của Luật này.”

1. Những vấn đề pháp lý về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Khoản 21 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm.

Thụ tinh nhân tạo dước góc độ y học được hiểu là bơm tinh trùng của người chồng vào buồng tử cung của người vợ, cho tinh trùng bơi vào ống dẫn trứng và thụ tinh với trứng của người vợ từ đó dẫn đến thụ thai như bình thường.

Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi (khoản 1 Điều 2 Nghị định số 02/VBHN-BYT ngày 30/01/2019 của Bộ Y tế).

Các trường hợp được sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được quy định tại Điều 3 Nghị định số 02/VBHN-BYT ngày 30/01/2019 của Bộ Y tế như sau:

+ Cặp vợ chồng vô sinh

Vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2 - 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai

+ Phụ nữ độc thân (phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật) có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa

2. Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

2.1. Xác định cha, mẹ đối với trường hợp cặp vợ chồng vô sinh

Theo quy định tại khoản 1 Điều 93 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “Trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này”.

Dẫn chiếu đến Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc xác định cha mẹ trong trường hợp này căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của vợ, chồng.

Theo đó, trong trường hợp con sinh ra trước ngày vợ, chồng đăng ký kết hôn và được vợ, chồng thừa nhận là con chung sẽ không được áp dụng với trường hợp con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Để đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được xác định là mẹ của đứa trẻ trong mọi trường hợp, kể cả khi người mẹ là người nhận tinh trùng, nhận noãn hay nhận phôi của người khác và người chồng hợp pháp của người mẹ đó cũng chính là cha đứa trẻ, ngay kể cả chồng không phải là người cho tinh trùng.

Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, hoặc cho phôi với đứa trẻ sinh ra. Quy định này mang tính phòng ngừa việc tranh chấp về xác định cha, mẹ, con và là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp nếu có.

Ví dụ: Anh A và chị B kết hôn nhưng không có con vì anh A bị vô sinh. Anh C là người cho vợ chồng anh A và chị B tinh trùng của mình, sau khi tiến hành kỹ thuật thụ tinh nhân tạo thành công cho chị B, chị B mang thai và sinh ra cháu D. Vậy trong trường hợp này cháu D là con hợp pháp của anh A và chị B chứ không phải là con của người cho tinh trùng là anh C.

2.2. Xác định cha, mẹ trong trường hợp phụ nữ sống độc thân

Trường hợp này được áp dụng đối với những người phụ nữ không xác lập quan hệ hôn nhân nhưng mong muốn có con. Theo đó, việc xác định cha mẹ trong trường hợp này được Luật quy định cụ thể. Theo khoản 2 Điều 93 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra”.

Như vậy, người phụ nữ độc thân này đương nhiên là mẹ của đứa trẻ được sinh ra.

3. Thẩm quyền xác định cha, mẹ, con

Căn cứ theo quy định tại Điều 101 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì:

- Trong trường hợp không có tranh chấp, cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch

- Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong các trường hợp sau:

+ Có tranh chấp giữa cha, mẹ, con

+ Trường hợp người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết

+ Trường hợp có yêu cầu việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết thì người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết (quy định tại Điều 92 Luật hôn nhân và giai đình năm 2014).

Quyết định của Tòa án về việc xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Luật Hoàng Anh

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan