Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao.

Theo Công ước Berne – Điều ước quốc tế đa phương đầu tiên về quyền tác giả đã quy định trong những trường hợp nhất định quốc gia thành viên có quyền quy định sao chép, trích dẫn, in lại, phát sóng lại,.. với mức độ phù hợp với thông lệ, không nhằm mục đích kinh doanh và không xâm hại tới việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây thiệt hại bất hợp lý cho những quyền lợi hợp pháp của tác giả thì việc sử dụng đó không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã kế thừa tinh thần của các Điều ước quốc tế khi quy định về “các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao” (Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019).

Theo đó, các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:

a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân.

Ví dụ: Chị A là giáo viên văn của một trường cấp 2, trong buổi lên lớp sắp tới chị muốn sao chép kết quả nghiên cứu khoa học cấp tỉnh của một cô giáo khác nhằm mục đích giảng dạy học sinh nên không cần phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao.

b) Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình.

Ví dụ: Nhà phê bình văn học A muốn viết một tác phẩm, trong đó có trích dẫn nguyên văn, không chỉnh sửa, làm sai ý một đoạn văn trong tác phẩm của nhà văn C để giải thích và bình luận nhằm mục đích khen sự sáng tạo, sự mới trong lối viết của nhà văn C .

c) Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu.

Ví dụ: Để làm thước phim tài liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nhà làm phim trích dẫn câu nói về Bác trong tác phẩm văn học nổi tiếng viết về Bác.

d) Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại.

Ví dụ: Giáo viên A dạy văn cấp 3, trích dẫn nguyên văn, không cắt xén một câu nói trong tác phẩm văn học nổi tiếng của nhà văn X nhằm giảng bài cho học sinh một cách hay hơn, thú vị hơn.

đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu.

Ví dụ: Sinh viên vào thư viện photo một tạp chí khoa học nhằm mục đích nghiên cứu khoa học.

e) Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào.

Ví dụ: Nghệ sĩ B biểu diễn miễn phí không thu vé vào cửa một tác phẩm kịch dân ca trong buổi sinh hoạt văn hoá của đồng bào dân tộc Thái.

g) Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;

Ví dụ: Anh A là phóng viên của Đài truyền hình Việt Nam ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn của các nghệ sĩ nổi tiếng để đưa tin thời sự.

h) Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;

Ví dụ: Sinh viên A chụp ảnh một tác phẩm nhiếp ảnh của nhiếp ảnh gia B ở buổi liên hoan ảnh nghệ thuật Bắc Trung Bộ nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó tới bạn bè trong một buổi sinh hoạt lớp.

i) Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;

Ví dụ: Anh A muốn thực hiện dự án giúp đỡ người khiếm thị tiếp cận được nhiều tác phẩm văn học hay, nên muốn chuyển tác phẩm sang dạng chữ nổi cho người khiếm thị.

k) Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng.

Ví dụ: Anh A nhập khẩu một bản sao tác phẩm văn học X của nhà văn nổi tiếng Y để sử dụng cho việc nghiên cứu khoa học.

Theo quy định trên, ngoại lệ chỉ dành cho một số trường hợp sử dụng tác phẩm khi đáp ứng các điều kiện sau: 

  • Việc sử dụng hoàn toàn vào mục đích phi thương mại như: nghiên cứu khoa học, giảng dạy;
  •  Việc sử dụng không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả;
  •  Khi sử dụng phải tôn trọng các quyền của tác giả như: thông tin về tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm. Bao gồm các trường hợp: i) Sao chép tác phẩm: Tự sao chép nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân hoặc sao chép để lưu trữ trong thư viện. Việc sao chép này không được quá một bản và không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình và chương trình máy tính.  ii) Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh hoạ trong tác phẩm của mình, trích dẫn tác phẩm để viết báo, dùng trong chương trình phát thanh, truyền hình, trích dẫn để giảng dạy trong nhà trường.

Tuy nhiên, việc trích dẫn tác phẩm phải thoả mãn hai điều kiện: 1) Phần trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề được đề cập trong tác phẩm của mình; 2) Phần trích dẫn từ tác phẩm được sử dụng để trích dẫn không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để trích dẫn; phù hợp với tính chất, đặc điểm của loại hình tác phẩm được sử dụng để trích dẫn.

Quy định về giới hạn quyền tác giả trong Luật Sở hữu trí tuệ đã tạo cơ chế pháp lý để giải quyết mối quan hệ giữa chủ thể của quyền tác giả trong việc sử dụng tác phẩm. Tuy nhiên, việc áp dụng những quy định này trên thực tế còn tồn tại một số bất cập. Ví dụ đối với quyền sao chép, trong nội dung quyền tác giả, quyền sao chép bao gồm cả việc ngăn cản người khác sao chép tác phẩm là quyền năng quan trọng nhất vì nó là cơ sở pháp lý đối với các hình thức khai thác tác phẩm được bảo hộ. Theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành thì sao chép tác phẩm thuộc độc quyền của chủ sở hữu quyền tác giả. Mặt khác, theo điểm a khoản 1 ; khoản 3 Điều 25 Luật này, việc sao chép không quá một bản và không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình và chương trình máy tính. Như vậy, trường hợp sao chép với số lượng lớn hơn một tác phẩm để phục vụ mục đích sử dụng cá nhân, phi thương mại vẫn phải xin phép, trả tiền cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm. Tuy nhiên, đó là điều khó thực hiện trên thực tế vì việc sao chép hiện nay khó kiểm soát và quản lý. Vì vậy, chúng ta nên cân nhắc sửa đổi Luật theo hướng mở rộng hơn ngoại lệ cho việc sao chép với mục đích sử dụng cá nhân, phi thương mại, nên bỏ quy định giới hạn về số bản sao chép như hiện nay.

                                                                                                                                                                                                                                                    Luật Hoàng Anh

 

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan