Đối tượng và điều kiện bảo hộ quyền liên quan

Đối tượng quyền liên quan được bảo hộ theo quy định tại Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009,2019, bao gồm: Cuộc biểu diễn; bản ghi âm, ghi hình; chương trình phát sóng; tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.

1. Cuộc biểu diễn

Pháp luật Việt Nam chưa có một định nghĩa cụ thể về cuộc biểu diễn, tại Điều 16 Luật Sở hữu trí tuệ chỉ liệt kê những chủ thể của quyền liên quan gồm: diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật (sau đây gọi chung là người biểu diễn). Từ đó có thể hiểu biểu diễn là việc trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật.

Công ước Rome – Công ước quốc tế về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng tại Điều 3 cũng đưa ra định nghĩa về “người biểu diễn” là “diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và các người khác nhập vai, hát, đọc, ngâm, trình bày, hoặc biểu diễn tác phẩm văn học, nghệ thuật”. Còn Hiệp ước WIPO về biểu diễn và bản ghi âm 1996 cũng có quy định tương tự về cuộc biểu diễn nhưng có bổ sung thêm một hình thức biểu diễn là “thể hiện tác phẩm văn học dân gian”.

Tóm lại, có thể hiểu cuộc biểu diễn là sự trình diễn tác phẩm văn học, nghệ thuật mang tính sáng tạo của một hoặc nhiều người nhằm hướng tới việc truyền tải tác phẩm đến công chúng. Đó có thể là buổi biểu diễn trực tiếp tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân khấu, đọc hay ngâm một tác phẩm văn học. Không giống như hành vi sử dụng tác phẩm của công chúng, hoạt dộng biểu diễn là hoạt động có tính sáng tạo, đạt đến trình độ nghệ thuật nhất định để đáp ứng yêu cầu. Người biểu diễn và những người hỗ trợ cho họ phải đầu tư rất nhiều công sức, trí tuệ, tiền bạc để buổi biểu diễn đạt hiệu quả cao nhất.

Cuộc biểu diễn thường dựa trên tác phẩm đã có sẵn, tuy nhiên có trường hợp nó cũng có thể là sự sáng tạo mang tính chất ngẫu hứng của người biểu diễn.Cuộc biểu diễn được bảo hộ nếu được “thực hiện” – được trình diễn bởi người biểu diễn, “được định hình” trên bản ghi âm, ghi hình hoặc được “phát sóng”. Như vậy, cuộc biểu diễn không nhất thiết phải được định hình trên một phương tiện hay hình thức nào mới được bảo hộ. 

Khoản 1 Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ quy định phạm vi cuộc biểu diễn được bảo hộ, đối với những cuộc biểu diễn được thực hiện nhưng không được định hình trên bản ghi âm, ghi hình, không được phát sóng sẽ được bảo hộ theo các trường hợp: nơi thực hiện hành vi, quốc tịch và theo Điều ước quốc tế. Đối với cuộc biểu diễn được địnnh hình trên bản ghi âm, ghi hình, sẽ được bảo hộ theo quy định liên quan đến quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình. Đối với cuộc biểu diễn chưa được định hình trên bản ghi âm, ghi hình mà được phát sóng thì sẽ được bảo hộ theo quy định liên quan đến quyền của các tổ chức phát sóng.

2. Bản ghi âm, ghi hình

Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, đối tượng được bảo hộ quyền liên quan bao gồm cả bản ghi âm và bản ghi hình. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa quy định của pháp luật Việt Nam với các Điều ước quốc tế, vì các Điều ước quốc tế chỉ bảo hộ cho bản ghi âm.

Khái niệm bản ghi âm, ghi hình được quy định tại khoản 6 Điều 4 Nghị định 22/2018/NĐ-CP: “Bản ghi âm, ghi hình là bản định hình các âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác hoặc việc định hình sự tái hiện lại các âm thanh, hình ảnh không phải dưới hình thức định hình gắn với tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự”.

Tuy nhiên, không phải bản ghi âm  ghi hình nào cũng được xem như đối tượng của quyền liên quan. Các đối tượng của quyền liên quan chỉ được bảo hộ khi có tính nguyên gốc. Đối với bản ghi âm, ghi hình, tính nguyên gốc thể hiện ở chỗ bản ghi đó phải là bản ghi âm, ghi hình đầu tiên. Pháp luật chỉ bảo hộ quyền cho người đầu tiên định hình âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác. Bản sao bản ghi âm, ghi hình không được bảo hộ với tư cách đối tượng quyền liên quan. Theo Khoản 2 Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, bản ghi âm ghi hình được bảo hộ theo quốc tịch và theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cụ thể:

  • Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có quốc tịch Việt Nam;
  • Bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

3. Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá

Luật Sở hữu trí tuệ không đưa ra khái niệm cụ thể về “chương trình phát sóng”, tuy nhiên có đưa ra khái niệm về phát sóng tại khoản 11 Điều 4 như sau: “Phát sóng là việc truyền âm thanh hoặc hình ảnh hoặc cả âm thanh và hình ảnh của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đến công chúng bằng phương tiện vô tuyến hoặc hữu tuyến, bao gồm cả việc truyền qua vệ tinh để công chúng có thể tiếp nhận được tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn.” Từ đó, có thể hiểu chương trình phát sóng là chương trình được quyền qua các phương tiện vô tuyến hoặc hữu tuyến để công chúng có thể thu nhận được âm thanh, hình ảnh của tác phẩm, cuộc biểu diễn,…. Chương trình phát sóng liên quan đến việc: phát thanh, truyền hình buổi biểu diễn đã được ghi âm, ghi hình; phát thanh, truyền hình các chương trình do tổ chức phát sóng trực tiếp sản xuất,… Để thực hiện một chương trình như vậy, các tổ chức phát sóng phải có sự đầu tư, do đó chương trình phát sóng là kết quả của sự đầu tư và sáng tạo trí tuệ của các tổ chức phát sóng.

Chương trình phát sóng chỉ được bảo hộ ghi nó tính nguyên gốc, tức là kết quả hoạt động sáng tạo của tổ chức phát sóng và được thực hiện lần đầu tiên. Các chương trình phát lại, phát sóng đồng thời hoặc trực tiếp phát sóng chương trình của tổ chức phát sóng khác sẽ không được coi là đối tượng bảo hộ quyền liên quan.

Theo khoản 10 Điều 4 Nghị định 22/2018/NĐ-CP: “Tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hóa là tín hiệu vệ tinh mang chương trình được truyền đi mà một trong hai đặc tính âm thanh, hình ảnh hoặc cả hai đặc tính này đã được biến đổi, thay đổi nhằm mục đích ngăn cản những người không có thiết bị giải mã tín hiệu vệ tinh hợp pháp thu trái phép chương trình truyền trong tín hiệu đó”.

Điều kiện bảo hộ của tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá giống với bản ghi âm, ghi hình. Luật Sở hữu trí tuệ quy định:

"3. Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được bảo hộ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa của tổ chức phát sóng có quốc tịch Việt Nam;

b) Chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa của tổ chức phát sóng được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên."

Quy định hiện nay không dành sự bảo hộ cho các chương trình phát sóng được phát bởi tổ chức phát sóng không có quốc tịch Việt Nam nhưng được phát qua đài phát sóng đặt tại Việt Nam.

Lưu ý, các đối tượng của quyền liên quan như cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng chỉ được bảo hộ với điều kiện không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để biểu diễn, sản xuất bản ghi âm, ghi hình, phát sóng.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Quyền liên quan

Tư vấn Sở hữu trí tuệ 05/05/2021

Khái niệm về quyền liên quan được hiểu như thế nào?