Hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học, công nghệ bị xử phạt như thế nào?

Bình đẳng giới là vấn đề được quan tâm từ xưa đến nay. Hướng tới bình đẳng giới là sự giải phóng cho cả nam và nữ khi không bị phân biệt hay đặt nặng trong bất kể lĩnh vực nào. Nhằm bảo đảm cho việc bình đẳng giới được thực thi trên thực tế, ngày 29/06/2006, Quốc hội Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật Bình đẳng giới năm 2006. Và, để xử phạt những hành vi vi phạm về bình đẳng giới, Chính phủ ban hành Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/06/2009. Trong bài viết này, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học, công nghệ.

Mức xử phạt

Hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học, công nghệ có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 200.000 đồng đến 40.000.000 đồng, được quy định tại Điều 10 Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/06/2009.

Điều 10. Các hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học, công nghệ

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhằm cản trở nam hoặc nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì định kiến giới.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở nam hoặc nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì định kiến giới.

b) Không cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu nhằm cản trở nam hoặc nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì định kiến giới.

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Dùng vũ lực cản trở nam hoặc nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì định kiến giới;

b) Không cho nam hoặc nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì định kiến giới.

4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi từ chối việc tham gia của một giới trong các khóa đào tạo hoặc trong các hoạt động khoa học, công nghệ vì định kiến giới.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc xin lỗi đối với hành vi quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 Điều này;

b) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp đã bị xâm hại đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 2, điểm b khoản 3 và khoản 4 Điều này;

c) Buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều này.”

Diễn giải một số thuật ngữ

Bình đẳng giới

Theo Khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006, Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.

Định kiến giới

Theo Khoản 4 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006, định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.

Giới tính

Khác với giới – chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội, thì giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ.

Khoa học và công nghệ

Theo Khoản 1,2 Luật Khoa học và công nghệ năm 2013,

Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.

Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.

Theo đó có thể hiểu khoa học và công nghệ là một tập hợp của những hoạt động có hệ thống, có sự sáng tạo với mục đích chính là phát triển kiến thức có liên quan đến con người, tự nhiên, xã hội để từ đó ứng dụng các kiến thức này vào việc tạo ra những nguồn ứng dụng mới.

Hoạt động khoa học và công nghệ

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 3 Luật Khoa học và công nghệ năm 2013, hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ.

Trong đó:

Nghiên cứu khoa học là loại hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng.

Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới. Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm.

Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quản nghiên cứu khoa học để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới.

Sản xuất thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống.

Dịch vụ Khoa học và Công nghệ là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ;  các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng trí thức khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn

Biện pháp khắc phục hậu quả

Hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ sẽ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả tại Khoản 5 Điều 10 Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/06/2009.

- Buộc xin lỗi đối với hành vi

Xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhằm làm cản trở nam hoặc nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì định kiến giới.

Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở nam hoặc nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì định kiến giới.

- Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp đã bị xâm hại đối với hành vi

Không cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu nhằm cản trở nam hoặc nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì định kiến giới.

Không cho nam hoặc nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì định kiến giới.

Từ chối việc tham gia của một giới trong các khóa đào tạo hoặc trong các hoạt động khoa học, công nghệ vì định kiến giới.

- Buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý đối với hành vi

Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở nam hoặc nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì định kiến giới.

Dùng vũ lực cản trở nam hoặc nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ vì định kiến giới.

Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính

Căn cứ vào Điều 4, 5 Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/06/2009, áp dụng nguyên tắc sau đây khi xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới.

Thứ nhất, về hình thức xử phạt

- Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:

Phạt cảnh cáo.

Phạt tiền. Mức phạt tối thiểu là 200.000 đồng, mức phạt tối đa là 40.000.000 đồng.

- Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Thứ hai, về trách nhiệm thi hành, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thi hành Nghị định này.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành những gì được hướng dẫn.

Trình tự thủ tục xử phạt vi phạm hành chính

Do hành vi có mức tiền từ 200.000 đến 12.000.000 đồng nên có 02 hướng xử phạt như sau:

Thứ nhất, mức phạt dưới 500.000 đồng, áp dụng thủ tục xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản theo quy định tại Điều 56 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Thứ hai, mức phạt trên 500.000 đồng sẽ áp dụng thủ tục xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Điều 57, 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 năm 2012, sửa đổi bởi Khoản 29 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi năm 2020. Theo đó thủ tục xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo trình tự:

Bước 1:  Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính.

Biên bản vi phạm hành chính phải được lập tại nơi xảy ra hành vi vi phạm hành chính. Trường hợp biên bản vi phạm hành chính được lập tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền lập biên bản hoặc địa điểm khác thì phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Bước 2: Ký biên bản vi phạm hành chính

Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký.

Bước 3: Giao biên bản vi phạm hành chính

Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải được giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính 01 bản. Trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản và các tài liệu khác phải được chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, trừ trường hợp biên bản vi phạm hành chính được lập trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa.

Trường hợp biên bản vi phạm hành chính có sai sót hoặc không thể hiện đầy đủ, chính xác các nội dung thì phải tiến hành xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính để làm căn cứ ra quyết định xử phạt. Việc xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính được lập thành biên bản xác minh. Biên bản xác minh là tài liệu gắn liền với biên bản vi phạm hành chính và được lưu trong hồ sơ xử phạt.

Biên bản vi phạm hành chính có thể được lập, gửi bằng phương thức điện tử đối với trường hợp cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm đáp ứng điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, thông tin.

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới

Hành vi vi phạm quy định về bình đẳng giới có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 14,15,16,17 Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009.

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội

Thanh tra viên Lao động – Thương binh và Xã hội đang thi hành công vụ có quyền:

Phạt cảnh cáo.

Phạt tiền đến 500.000 đồng.

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng.

Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.

Chánh Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có quyền:

Phạt cảnh cáo.

Phạt tiền đến 30.000.000 đồng.

Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền.

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.

Chánh Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có quyền:

Phạt cảnh cáo.

Phạt tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định này.

Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền.

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thanh tra chuyên ngành khác

Trong phạm vi quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật, Thanh tra viên đang thi hành công vụ, Chánh Thanh tra cấp Sở, Chánh thanh tra cấp Bộ của các ngành khác mà phát hiện hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới quy định tại Nghị định này thuộc lĩnh vực hoặc địa bàn quản lý của mình thì cũng có quyền xử phạt như Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội.

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền:

Phạt cảnh cáo.

Phạt tiền đến 2.000.000 đồng.

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng.

Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền:

Phạt cảnh cáo.

Phạt tiền đến 30.000.000 đồng.

Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền.

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền:

Phạt cảnh cáo.

Phạt tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định số 55/2009/NĐ-CP.

Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền.

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng

Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới liên quan trực tiếp đến lĩnh vực mình quản lý.

Xem thêm: Tổng hợp bài viết về Nghị định xử phạt vi phạm hành chính

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Vi phạm quy định về vận chuyển thuốc bảo vệ thực vật bị xử phạt như thế nào?

Vi phạm hành chính 25/10/2021

Xử phạt Vi phạm quy định về vận chuyển thuốc bảo vệ thực vật.

Vi phạm quy định về nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật bị xử phạt như thế nào?

Vi phạm hành chính 25/10/2021

Xử phạt Vi phạm quy định về nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật.

Vi phạm quy định về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật bị xử phạt như thế nào?

Vi phạm hành chính 25/10/2021

Xử phạt Vi phạm quy định về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

Hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bị xử phạt như thế nào?

Vi phạm hành chính 26/10/2021

Xử phạt Hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bị xử phạt như thế nào?

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới?

Vi phạm hành chính 26/10/2021

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới

Vi phạm quy định quản lý giấy phép, Giấy chứng nhận về bảo vệ và kiểm dịch thực vật bị xử phạt như thế nào?

Vi phạm hành chính 26/10/2021

Xử phạt Vi phạm quy định quản lý giấy phép, Giấy chứng nhận về bảo vệ và kiểm dịch thực vật.

Hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong gia đình bị xử phạt như thế nào?

Vi phạm hành chính 26/10/2021

Xử phạt Hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong gia đình.

Hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bị xử phạt như thế nào?

Vi phạm hành chính 26/10/2021

Xử phạt Hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.