Mẫu hợp đồng thực hành khám bệnh, chữa bệnh

Thứ ba, 11/04/2023, 08:48:08 (GMT+7)

Bài viết sau đây trình bày về mẫu hợp đồng thực hành khám bệnh, chữa bệnh

MỤC LỤC

MỤC LỤC

Hoạt động khám bệnh, chữa bệnh là hoạt động vô cùng thiết yếu của đời sống, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, tính mạng của con người. Bởi vậy, việc cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, là minh chứng thể hiện cá nhân đó có đủ năng lực, trình độ chuyên môn để thực hiện khám bệnh, chữa bệnh; góp phần giảm các rủi ro y tế từ việc người hành nghề KBCB thiếu chuyên môn gây ra. Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh cũng là một công cụ để nhà nước quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh. Để được cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thì cần thực hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và có văn bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó. Trong quá trình thực hành, để đảm bảo quyền và lợi ích của các bên thì giữa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người thực hành cần ký kết một loại hợp đồng đó là hợp đồng thực hành khám bệnh, chữa bệnh. Theo đó, bài viết sau đây của Luật Hoàng Anh sẽ trình bày về mẫu hợp đồng thực hành khám bệnh, chữa bệnh.

Căn cứ pháp lý

- Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 ngày 23 tháng 11 năm 2009 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2011, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 ngày 24 tháng 11 năm 2017 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.

- Nghị định 109/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 quy định cấp chứng chỉ hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

- Nghị định số 155/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2018 sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế.

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là gì?

Theo khoản 7 Điều 2 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.

Theo Điều 22 Nghị định 109/2016/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 155/2018/NĐ-CP) thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập theo quy định của pháp luật và phải theo một trong các hình thức tổ chức sau đây:

- Bệnh viện bao gồm bệnh viện đa khoa và bệnh viện chuyên khoa.

- Bệnh xá thuộc lực lượng Công an nhân dân.

- Phòng khám đa khoa.

- Phòng khám chuyên khoa, bao gồm:

+ Phòng khám nội tổng hợp;

+ Phòng khám chuyên khoa thuộc hệ nội: Tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, nhi và chuyên khoa khác thuộc hệ nội;

+ Phòng khám tư vấn sức khỏe hoặc phòng tư vấn sức khỏe qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông;

+ Phòng khám chuyên khoa ngoại;

+ Phòng khám chuyên khoa phụ sản;

+ Phòng khám chuyên khoa nam học;

+ Phòng khám chuyên khoa răng - hàm - mặt;

+ Phòng khám chuyên khoa tai - mũi - họng;

+ Phòng khám chuyên khoa mắt;

+ Phòng khám chuyên khoa thẩm mỹ;

+ Phòng khám chuyên khoa phục hồi chức năng;

+ Phòng khám chuyên khoa tâm thần;

+ Phòng khám chuyên khoa ung bướu;

+ Phòng khám chuyên khoa da liễu;

+ Phòng khám chuyên khoa y học cổ truyền; Phòng chẩn trị y học cổ truyền;

+ Phòng khám chuyên khoa dinh dưỡng;

+ Phòng khám hỗ trợ điều trị cai nghiện ma túy;

+ Phòng khám, điều trị HIV/AIDS;

+ Phòng xét nghiệm;

+ Phòng khám chẩn đoán hình ảnh, Phòng X-Quang;

+ Phòng khám, điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế thực hiện theo quy định tại Nghị định 90/2016/NĐ-CP;

+ Phòng khám, tư vấn và điều trị dự phòng;

+ Phòng khám, điều trị bệnh nghề nghiệp;

+ Phòng khám chuyên khoa khác.

- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình (hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo nguyên lý y học gia đình): Thực hiện thí điểm theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

- Nhà hộ sinh.

- Cơ sở dịch vụ y tế bao gồm:

+ Cơ sở dịch vụ tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp;

+ Cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà;

+ Cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài;

+ Cơ sở dịch vụ kính thuốc;

+ Cơ sở dịch vụ thẩm mỹ;

+ Cơ sở dịch vụ y tế khác.

- Trạm y tế cấp xã, trạm xá.

- Cơ sở giám định y khoa, cơ sở giám định pháp y, có thực hiện khám bệnh, chữa bệnh thì phải tổ chức theo hình thức phòng khám đa khoa. 

Cơ sở giám định pháp y tâm thần có thực hiện khám bệnh, chữa bệnh thì phải tổ chức theo một trong các hình thức bệnh viện đa khoa và bệnh viện chuyên khoa, phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa tâm thần.

Các cơ sở này phải đáp ứng điều kiện tương ứng với từng hình thức tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

- Cơ sở y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải thực hiện theo một trong các hình thức phòng khám đa khoa hoặc phòng khám nội tổng hợp và phải đáp ứng điều kiện quy định tương ứng với hình thức tổ chức đó.

- Trung tâm y tế có chức năng khám bệnh, chữa bệnh thì cấp giấy phép hoạt động theo hình thức tổ chức là bệnh viện đa khoa hoặc phòng khám đa khoa và phải đáp ứng điều kiện quy định tương ứng với hình thức tổ chức đó. 

Việc phân hạng thực hiện theo nguyên tắc nếu được cấp giấy phép hoạt động theo mô hình phòng khám đa khoa thì được xếp hạng IV, nếu được cấp giấy phép hoạt động theo mô hình bệnh viện thì được xếp theo hạng bệnh viện tương đương với quy mô của cơ sở đó.

- Trường hợp các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đáp ứng đủ điều kiện của các cơ sở dịch vụ y tế quy định tại Nghị định 109/2016/NĐ-CP thì được bổ sung quy mô và phạm vi hoạt động chuyên môn tương ứng.

Hợp đồng thực hành khám bệnh, chữa bệnh là gì?

Điểm b khoản 2 Điều 16 Nghị định 109/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định: “Sau khi nhận được đơn đề nghị thực hành, nếu đồng ý tiếp nhận, người đứng đầu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm ký hợp đồng thực hành với người thực hành theo Mẫu 02 Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này.”

Theo đó, một trong những điều kiện quan trọng để một cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đó là có văn bản xác nhận quá trình thực hành. Bởi vậy trước hết cần được cơ sở khám chữa bệnh tiếp nhận để thực hành. Khi tiếp nhận, cơ sở khám chữa bệnh có trách nhiệm phải ký kết hợp đồng thực hành với người thực hành theo mẫu 02 Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này.

Mẫu hợp đồng thực hành khám bệnh, chữa bệnh

Quy định về tiếp nhận người thực hành

Khoản 1 Điều 16 Nghị định 109/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tiếp nhận người thực hành như sau:

- Người thực hành phải có đơn đề nghị thực hành theo Mẫu 01 Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này và bản sao hợp lệ văn bằng chuyên môn liên quan đến y tế gửi đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi đăng ký thực hành;

- Sau khi nhận được đơn đề nghị thực hành, nếu đồng ý tiếp nhận, người đứng đầu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm ký hợp đồng thực hành với người thực hành theo Mẫu 02 Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này.

Quy định về phân công người hướng dẫn thực hành

Khoản 1 Điều 16 Nghị định 109/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ra quyết định phân công người hướng dẫn thực hành theo Mẫu 03 Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này. Một người hướng dẫn thực hành chỉ được hướng dẫn tối đa là 5 người thực hành trong cùng một thời điểm.

Tuy nhiên, không phải bất cứ chủ thể nào cũng được làm người hướng dẫn thực hành. Để được làm người hướng dẫn thực hành cần đáp ứng các điều kiện sau:

- Có chứng chỉ hành nghề;

- Có phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp với văn bằng của người thực hành, có trình độ đào tạo tương đương hoặc cao hơn người thực hành và có thời gian hành nghề khám bệnh, chữa bệnh liên tục từ 3 năm trở lên.

Quy định về trách nhiệm của người hướng dẫn thực hành