Trách nhiệm chuyển quyền bồi hoàn trong hợp đồng bảo hiểm tài sản là gì?

Hợp đồng bảo hiểm tài sản

Theo Khoản 1 Điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010, 2019, hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa hai chủ thể trao đổi quyền và nghĩa vụ tương ứng, một bên (bên mua bảo hiểm) trả phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, bên còn lại (doanh nghiệp bảo hiểm) có trách nhiệm bảo hiểm, thanh toán tiền bảo hiểm hoặc bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (sự kiện bảo hiểm là sự kiện pháp lý mà khi xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải tiến hành thanh toán cho bên được bảo hiểm một khoản tiền bảo hiểm hoặc khoản bồi thường nhất định theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm).

Có ba loại hợp đồng bảo hiểm, là:

- Hợp đồng bảo hiểm con người

- Hợp đồng bảo hiểm tài sản

- Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Trong đó, hợp đồng bảo hiểm tài sản là hợp đồng bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là tài sản (bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản, trong đó có cả động sản, bất động sản hiện có và hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, trên thực tế, bảo hiểm cho tài sản hình thành trong tương lai mang rủi ro lớn cho bên nhận bảo hiểm (doanh nghiệp bảo hiểm) nên thông thường các hợp đồng bảo hiểm tài sản chỉ có đối tượng là tài sản hiện có), đồng thời, sự kiện bảo hiểm xảy ra phải làm hao tổn, thiệt hại, gây mất giá trị đột ngột và ở mức độ nhất định cho tài sản được bảo hiểm.

Trách nhiệm chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn trong hợp đồng bảo hiểm tài sản

Trường hợp và chủ thể thực hiện trách nhiệm chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn trong hợp đồng bảo hiểm tài sản

Theo Khoản 1 Điều 49 Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010, 2019:

- Chủ thể thực hiện trách nhiệm chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn trong hợp đồng bảo hiểm tài sản: Bên mua bảo hiểm (cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện trách nhiệm bảo hiểm đối với tài sản là đối tượng bảo hiểm)

- Trường hợp thực hiện trách nhiệm chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn trong hợp đồng bảo hiểm tài sản: Người thứ ba có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm nhưng doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm. Trong trường hợp này, người được bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà mình đã nhận bồi thường cho doanh nghiệp bảo hiểm. Theo đó:

+ Doanh nghiệp bảo hiểm vẫn sẽ thực hiện trách nhiệm bảo hiểm của mình đối với người được bảo hiểm ngay trong trường hợp tài sản bị thiệt hại bởi lỗi của bên thứ ba.

+ Người được bảo hiểm có trách nhiệm chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà mình đã nhận bồi thường cho doanh nghiệp. Tức là người được bảo hiểm sẽ chỉ nhận được tiền bồi thường từ doanh nghiệp chứ không được nhận tiền bồi thường của người thứ ba. Thay vào đó, người thứ ba phải thực hiện trách nhiệm bồi hoàn cho doanh nghiệp bảo hiểm số tiền bằng mức mà bên được bảo hiểm đã nhận từ doanh nghiệp bảo hiểm.

- Trường hợp người được bảo hiểm từ chối chuyển quyền cho doanh nghiệp bảo hiểm, không bảo lưu hoặc từ bỏ quyền yêu cầu người thứ ba bồi thường: Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền khấu trừ số tiền bồi thường tùy theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm. Theo đó, nếu người được bảo hiểm có lỗi dẫn đến thiệt hại của tài sản được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm dựa trên mức độ lỗi đó để khấu trừ tiền bồi thường.

Trường hợp doanh nghiệp không được yêu cầu bồi hoàn

Theo Khoản 3 Điều 49 Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010, 2019, doanh nghiệp bảo hiểm không được yêu cầu cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị em ruột của người được bảo hiểm bồi hoàn khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã trả cho người được bảo hiểm, trừ trường hợp những người này cố ý gây ra tổn thất. Tức là:

- Trong trường hợp người thứ ba gây thiệt hại cho tài sản (đối tượng của hợp đồng bảo hiểm) là cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị em ruột của người được bảo hiểm thì ngay cả khi đã được người được bảo hiểm chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, doanh nghiệp bảo hiểm cũng không được yêu cầu bồi hoàn đối với các chủ thể này, nếu các chủ thể này gây thiệt hại cho tài sản với lỗi vô ý, hoặc không cố ý.

- Trong trường hợp cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị em ruột của người được bảo hiểm gây thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm do lỗi cố ý, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn có quyền yêu cầu bồi hoàn đối với các chủ thể này.

Xem thêm: Tổng hợp bài viết về Luật kinh doanh bảo hiểm

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Giao kết hợp đồng bảo hiểm con người cho trường hợp chết như thế nào?

Hỏi đáp Bảo hiểm xã hội 24/10/2021

Bài viết giải thích về giao kết hợp đồng bảo hiểm con người cho trường hợp chết

Có những trường hợp nào không trả tiền bảo hiểm đối với hợp đồng bảo hiểm con người?

Hỏi đáp Bảo hiểm xã hội 24/10/2021

Bài viết giải thích về những trường hợp không trả tiền bảo hiểm đối với hợp đồng bảo hiểm con người

Hợp đồng bảo hiểm tài sản là gì?

Hỏi đáp Bảo hiểm xã hội 24/10/2021

Bài viết giải thích khái niệm hợp đồng bảo hiểm tài sản

Hợp đồng bảo hiểm tài sản dưới giá trị là gì?

Hỏi đáp Bảo hiểm xã hội 24/10/2021

Bài viết giải thích về hợp đồng bảo hiểm tài sản dưới giá trị

Hợp đồng bảo hiểm trên giá trị là gì?

Hỏi đáp Bảo hiểm xã hội 25/10/2021

Bài viết giải thích khái niệm và xử lý đối với hợp đồng bảo hiểm trên giá trị

Hợp đồng bảo hiểm trùng là gì?

Hỏi đáp Bảo hiểm xã hội 25/10/2021

Bài viết giải thích về khái niệm và trách nhiệm liên quan đến bảo hiểm trùng

Căn cứ bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm tài sản như thế nào?

Hỏi đáp Bảo hiểm xã hội 25/10/2021

Bài viết giải thích về căn cứ bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm tài sản

Hình thức bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm tài sản như thế nào?

Hỏi đáp Bảo hiểm xã hội 25/10/2021

Bài viết giải thích về hình thức bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm tài sản