Các tiêu chí phân loại chuyển giao công nghệ?

Việc phân loại chuyển giao công nghệ có thể được tiến hành dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Dưới đây là một số cách phân loại phổ biến hiện nay.

1. Phân loại theo giới hạn địa lý

a. Chuyển giao công nghệ tại Việt Nam.

Khoản 8 Điều 1 Luật chuyển giao công nghệ số 07/2017/Qh14 ngày 19 tháng 6 năm 2017 quy định:

“8. Chuyển giao công nghệ trong nước là việc chuyển giao công nghệ được thực hiện trong lãnh thổ Việt Nam.”

Chuyển giao công nghệ tại Việt Nam được hiểu là việc chuyển giao công nghệ giữa các cá nhân, tổ chức hoạt động tại Việt Nam. Việc chuyển giao này không làm cho công nghệ ra khỏi Việt Nam mà bên nhận chuyển giao vẫn sử dụng công nghệ trong lãnh thổ Việt Nam.

b. Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam.

Khoản 9 Điều 1 Luật chuyển giao công nghệ số 07/2017/Qh14 ngày 19 tháng 6 năm 2017 quy định:

“9. Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam là việc chuyển giao công nghệ qua biên giới vào lãnh thổ Việt Nam.”

Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam được hiểu là việc tổ chức, cá nhân hoạt động ở nước ngoài chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam.

c. Chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài 

Khoản 10 Điều 1 Luật chuyển giao công nghệ số 07/2017/Qh14 ngày 19 tháng 6 năm 2017 quy định:

“10. Chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài là việc chuyển giao công nghệ từ lãnh thổ Việt Nam qua biên giới ra nước ngoài.”

Chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài được hiểu là việc tổ chức, cá nhân hoạt động ở Việt Nam chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân hoạt động ở nước ngoài.

2. Phân loại theo bản chất quyền đối với công nghệ được chuyển giao

a. Chuyển giao giản đơn

Chuyển giao giản đơn là hình thức bên chuyển giao công nghệ cho phép bên nhận chuyển giao quyền được sử dụng công nghệ trong một thời gian và không gian nhất định. Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ là việc chuyển giao mà bên sử dụng chỉ có quyền sử dụng công nghệ để phục vụ hoạt động sản xuất, không có quyền sở hữu đối với công nghệ. Sự phân biệt chuyển giao quyền sử dụng công nghệ hay quyền sở hữu công nghệ không chỉ ở phạm vi khái niệm sử dụng (với nghĩa là không được định đoạt) mà còn ở chỗ, việc chuyển giao quyền sử dụng thường có giới hạn về thời gian cũng như không gian. Bên nhận chuyển giao chỉ được sử dụng công nghệ trong một khoảng thời gian nhất định và có thể, trong một phạm vi không gian nhất định (như chỉ tại Việt Nam chẳng hạn).

b. Chuyển giao công nghệ không độc quyền

Chuyển giao công nghệ không độc quyền là hình thức bên chuyển giao công nghệ đồng ý chuyển giao toàn bộ quyền sử dụng công nghệ cho bên nhận chuyển giao vô thời hạn, trong phạm vi một không gian nhất định, nhưng không cho phép bên nhận chuyển giao quyền chuyển nhượng lại cho bên thứ ba. Hình thức này được thể hiện rất phổ biến trong ngành kinh doanh dịch vụ khách sạn cao cấp.

c. Chuyển giao công nghệ độc quyền

Chuyển giao công nghệ độc quyền là hình thức bên chuyển giao trao toàn bộ quyền sử dụng công nghệ cho bên nhận chuyển giao vô thời hạn, ở bất cứ nơi đâu và không kèm theo bất kỳ hạn chế nào về chuyển chuyển giao lại cho các bên khác. Việc chuyển giao này có thể là việc "mua đứt", tức là bên chuyển giao hoàn toàn không có quyền gì đối với công nghệ đã chuyển giao, hoặc chỉ là "sự chia sẻ quyền", tức là bên chuyển giao vẫn có quyền "đồng" sở hữu công nghệ đã chuyển giao.

3. Phân loại theo nội dung công nghệ được chuyển giao

a. Chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng các đối tượng của sở hữu công nghiệp

Đối tượng của sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa. Theo đó, bên chuyển giao sẽ chuyển giao bên nhận chuyển giao các quyền năng đối với các đối tượng này, như quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa trên các sản phẩm, sử dụng các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp trong quá trình sản xuất sản phẩm.

b. Chuyển giao thông qua việc mua bán, cung cấp các đối tượng của công nghệ.

Bên chuyển giao sẽ chuyển cho bên nhận công nghệ các tài liệu về công nghệ như bí quyết kỹ thuật, phương án và quy trình công nghệ, bản vẽ, công thức, thiết kế, quy trình sản xuất và các tài liệu khác. Những tài liệu này có thể dưới dạng văn bản, phần mềm máy tính, tranh ảnh hoặc tư liệu dưới những hình thức ghi nhớ khác như băng ghi âm, video…

Bên chuyển giao có thể chuyển giao máy móc, thiết bị sản xuất hoặc bản thân sản phẩm hàm chứa công nghệ cho bên nhận chuyển giao. Thông qua những sản phẩm này, bên nhận chuyển giao sẽ tiếp thu được công nghệ của bên chuyển giao. Nếu chỉ chuyển giao công nghệ theo nội dung này thì bên nhận chuyển giao sẽ khó khăn trong việc hiểu tường tận và áp dụng đúng công nghệ.

c. Thực hiện các dịch vụ hỗ trợ và tư vấn

Việc chuyển giao có thể được thực hiện thông qua việc bên chuyển giao sẽ chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ hỗ trợ và tư vấn như nghiên cứu, phân tích đánh giá tính khả thi của dự án đầu tư đổi mới công nghệ; hỗ trợ kỹ thuật, lựa chọn công nghệ, hướng dẫn lắp đặt, vận hành thử dây chuyền; tư vấn quản lý công nghệ; và đào tạo huấn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và quản lý của cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân.

4. Phân loại theo nguồn gốc công nghệ được chuyển giao

a. Chuyển giao công nghệ theo chiều dọc

Là việc chuyển giao công nghệ từ khu vực nghiên cứu đến nơi sản xuất. Trong trường hợp này, bên chuyển giao là cá nhân hoặc tổ chức nghiên cứu (các viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu, các liên hiệp khoa học…). Trong hoạt động chuyển giao này, công nghệ có thể được đưa vào áp dụng đại trà trong sản xuất lần đầu tiên. Đây là một kênh chuyển giao khá hiệu quả, nhằm kết nối được hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng trên thực tiễn. Các hợp đồng đặt hàng sản phẩm nghiên cứu giữa doanh nghiệp và viện nghiên cứu chính là thể hiện việc chuyển giao công nghệ này.

b. Chuyển giao công nghệ theo chiều ngang

Là việc chuyển giao công nghệ từ nơi áp dụng này đến nơi áp dụng khác. Tổ chức, cá nhân đang sở hữu và sử dụng công nghệ tiến hành chuyển giao công nghệ cho chủ thể khác. Việc chuyển giao công nghệ theo chiều ngang làm cho công nghệ được nhanh chóng phổ biến rộng rãi.

5. Phân loại theo tính trực tiếp hoặc gián tiếp của việc chuyển giao công nghệ

a. Chuyển giao trực tiếp

Thông qua việc chuyển giao máy móc, thiết bị, tài liệu kỹ thuật cho bên nhận chuyển giao. Bên tiếp nhận công nghệ là một chủ thể hiện hữu, là một bên của hợp đồng chuyển giao công nghệ, đồng thời cũng là chủ sở hữu hoặc sử dụng công nghệ sau khi tiếp nhận.

b. Chuyển giao gián tiếp

Là việc chuyển giao thông qua việc thành lập các liên doanh, trong đó bên chuyển giao góp vốn bằng công nghệ. Trong trường hợp này, bên tiếp nhận công nghệ về mặt pháp lý là bên Việt Nam, nhưng thực chất là liên doanh được thành lập mới là chủ sở hữu hoặc sử dụng công nghệ.

Việc phân loại chuyển giao công nghệ chỉ có tính tương đối và nhằm làm rõ bản chất của chuyển giao công nghệ và do đó, nhà lập pháp sẽ xây dựng các quy định pháp luật điều chỉnh cho thật sự phù hợp. Trên thực tế, các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận việc chuyển giao công nghệ là sự kết hợp của các loại chuyển giao được phân loại trên đây sao cho phù hợp với ý muốn của mình trên cơ sở tuân thủ pháp luật.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về công nghệ và chuyển giao công nghệ

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Phạt tiền trong xử lý vi phạm hành chính là gì? (P1)

Hỏi đáp luật Dân Sự 26/07/2021

Phạt tiền là một hình thức xử phạt chính được quy định tại Điều 21, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012

Phạt tiền trong xử lý vi phạm hành chính là gì? (P2)

Hỏi đáp luật Dân Sự 26/07/2021

Phạt tiền là một hình thức xử phạt chính được quy định tại Điều 21, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012

Quyền từ chối của bên có nghĩa vụ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 26/07/2021

Quyền từ chối của bên có nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ từ chối việc thực hiện nghĩa vụ với bên thế quyền.

Nghĩa vụ cung cấp thông tin và chuyển giao giấy tờ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 26/07/2021

Người chuyển giao quyền yêu cầu phải cung cấp thông tin cần thiết, chuyển giao giấy tờ có liên quan cho người thế quyền.

Không chịu trách nhiệm sau khi chuyển giao quyền yêu cầu?

Hỏi đáp luật Dân Sự 26/07/2021

Người chuyển giao quyền yêu cầu không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ sau khi chuyển giao quyền yêu cầu

Chuyển giao quyền yêu cầu là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 26/07/2021

Bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ có thể chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thỏa thuận

Chuyển giao quyền yêu cầu có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 26/07/2021

Trường hợp quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm thì việc chuyển giao quyền yêu cầu bao gồm cả biện pháp bảo đảm đó