Công nghệ và chuyển giao công nghệ là gì (P1)?

Trong thời đại công nghệ 4.0 việc sử dụng công nghệ trở thành một phần thiết yếu không thể thiếu đối với cá nhân, tổ chức hay các doanh nghiệp. Và một vấn đề hết sức quan trọng nữa đó là chuyển giao công nghệ. Vậy khái niệm “Công nghệ” và “Chuyển giao công nghệ” được pháp luật quy định như thế nào?

1. Công nghệ

Theo Khoản 2 Điều 1 Luật chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2017 quy định khái niệm công nghệ như sau:

“2. Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.”

Khái niệm “Bí quyết” được Khoản 1 Điều 1 Luật chuyển giao công nghệ diễn giải như sau:

“1. Bí quyết là thông tin được tích luỹ, khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh của chủ sở hữu công nghệ có ý nghĩa quyết định chất lượng, khả năng cạnh tranh của công nghệ, sản phẩm công nghệ”

Từ khái niệm “bí quyết” của Luật chuyển giao công nghệ, chúng ta liên hệ đến khái niệm “Bí mật kinh doanh”, một đối tượng được bảo hộ độc quyền trong Luật Sở hữu trí tuệ: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”. “Bí quyết” thuộc tập hợp “Bí mật kinh doanh”, vì đều là thông tin thu được từ hoạt động kinh doanh, kết tinh của lao động bằng trí tuệ, có khả năng sử dụng được trong kinh doanh và các lĩnh vực khác. Mặc dù “Bí quyết” và “Bí mật” cũng mang hàm nghĩa tương đồng, là những thông tin được giấu kín. Tuy nhiên, nội hàm của “Bí quyết” hẹp hơn “Bí mật kinh doanh”. Vì “Bí mật kinh doanh” ngoài “Bí quyết” tương ứng với các giải pháp kỹ thuật, còn những bí quyết khác không phải kỹ thuật gắn với hoạt động trong quá trình tổ chức sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, bên cạnh các đối tượng được bảo hộ buộc phải bộc lộ thông tin thì “Bí mật kinh doanh” là hình thức bảo hộ theo cơ chế đặc biệt, do chủ sở hữu tự bảo vệ che giấu thông tin.

Trước đây, khi đề cập đến công nghệ, thông thường chúng ta bàn đến lĩnh vực kỹ thuật. Nhưng nay, công nghệ còn bao hàm trong lĩnh vực dịch vụ (có thể gắn với kỹ thuật hoặc không phải kỹ thuật), vì giải pháp trong lĩnh vực dịch vụ cũng biến đổi nguồn lực thành sản phẩm (sản phẩm dịch vụ). Ví dụ, công nghệ trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng, trong đó có những cách thức, biện pháp huy động vốn, sử dụng vốn, nâng cao số lượng vòng quay của vốn một cách hiệu quả. Đồng thời, công nghệ không chỉ dừng lại trong lĩnh vực kỹ thuật, hay lĩnh vực kinh doanh. Về tổng thể, công nghệ có thể xuất hiện trong mọi lĩnh vực kể cả lĩnh vực quân sự, an ninh quốc phòng đến các hoạt động vui chơi, giải trí…

Mặt khác, khi đề cập đến giải pháp, tức là cách thức hay phương tiện giải quyết một vấn đề. Giải pháp giải quyết có thể bằng “sản phẩm” (tức là bằng công cụ hay phương tiện vật chất cụ thể) hoặc có thể bằng “quy trình” (trình tự sắp xếp, tổ chức công việc). Dưới góc độ về mặt toán học, xét ở khía cạnh tập hợp, thì “sản phẩm”, “quy trình” là hai tập hợp con của tập hợp “giải pháp”. Có nghĩa là “giải pháp” bao hàm cả “sản phẩm” và “quy trình”.

Trở lại với khái niệm “công nghệ” của Luật chuyển giao công nghệ, chúng ta thấy rằng: khái niệm “công nghệ” của Luật chuyển giao công nghệ rõ ràng chưa đầy đủ. Nó vừa thừa, vừa thiếu, bởi lẽ khi đề cập “giải pháp” thì không nên liệt kê “quy trình” một cách độc lập, song song, vì “quy trình” là tập hợp con của “giải pháp”. Nếu muốn đề cập rõ nghĩa hơn,thì nên loại hẳn thuật ngữ “giải pháp”, bổ sung thêm thuật ngữ “sản phẩm” vào nội dung diễn giải khái niệm “công nghệ” hoặc sử dụng phương án thay thế khác sẽ được trình bày cụ thể trong nội dung của bài viết dưới đây.

Trong một bài viết trình bày tại hội thảo về chuyển giao công nghệ cuối năm 2014, tác giả Trần Văn Hải cũng có những phân tích, bình luận về vấn đề này. Tác giả Trần Văn Hải cho rằng công nghệ bao hàm vật thể, chất thể, quy trình. Quy định của Luật chuyển giao công nghệ (công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật…) thì “khó có thể điều chỉnh được đối với trường hợp công nghệ có kèm theo công cụ, phương tiện (công nghệ dạng sản phẩm) đối với các lần chuyển giao tiếp theo cho cùng một chủ thể nhận chuyển giao”. Theo quan điểm của tác giả bài báo, tác giả Trần Văn Hải đã phát hiện được điểm chưa phù hợp trong khái niệm “công nghệ” của Luật chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, phát hiện của tác giả Trần Văn Hải đúng nhưng chưa đủ. Lỗi logic trong khái niệm “công nghệ” của Luật chuyển giao công nghệ mới là nguyên nhân chính của vấn đề. Vì “quy trình” là một khái niệm mang tính chất độc lập, còn “sản phẩm” sẽ bao hàm vật thể, chất thể, vật liệu sinh học, giống cây trồng, giống vật nuôi như đã đề cập ở trên.

Trên cơ sở các luận giải và phân tích nêu trên, khái niệm công nghệ, trong Luật chuyển giao công nghệ cần được định nghĩa lại theo một trong các phương án sau đây:

Phương án 1: “Công nghệ là giải pháp, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”.

Nếu sử dụng phương án này, cần bổ sung thêm các khái niệm liên quan đến giải pháp, gồm các loại giải pháp (giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp, giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật; Nội hàm của giải pháp (giải pháp bao gồm sản phẩm hoặc quy trình) như đã phân tích, đề cập ở trên.

Phương án 2: “Công nghệ là sản phẩm, quy trình, bí quyết hoặc các giải pháp khác có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”.

Phương án 3: “Công nghệ là vật thể, chất thể, vật liệu sinh học, giống cây trồng, giống vật nuôi, quy trình, bí quyết, hoặc các giải pháp khác có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”.

Giải pháp khác đề cập tại hai phương án hai và phương án ba có thể là các giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp, giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chương trình máy tính, các thông số kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật…

Phương án 3 là lựa chọn của tác giả bài viết. Bởi so với các phương án khác, khái niệm công nghệ của phương án 3 khá rõ ràng cụ thể, giúp người đọc có thể hình dung ngay ra công nghệ là gì, bao gồm các đối tượng nào. Trong thực tế, với khái niệm công nghệ được định nghĩa trong Luật chuyển giao công nghệ, Luật Khoa học và Công nghệ (KH&CN) hiện nay, làm khá nhiều người cả trong lẫn ngoài ngành KH&CN vẫn còn mơ hồ về công nghệ. Do chưa hiểu rõ về công nghệ, không được trang bị kiến thức bài bản về công nghệ và quản lý công nghệ, nên phần lớn cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về công nghệ ở nước ta khá lúng túng trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan. Từ đó, hiệu quả, hiệu lực của công tác quản lý nhà nước về công nghệ hiện nay ở nước ta chưa cao và trở thành một vấn đề khá nan giải đòi hỏi phải giải quyết căn bản từ gốc đến ngọn, từ lý luận đến thực tiễn. Kiến thức kỹ thuật chỉ là một điều kiện cần để quản lý công nghệ, nhưng chưa đủ. Bên cạnh các kiến thức kỹ thuật, còn đòi hỏi nhiều kiến thức về thương mại, pháp lý và các kiến thức chuyên ngành khác liên quan.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về công nghệ và chuyển giao công nghệ.

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/07/2021

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đặt ra khi bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại cho bên có quyền.

Xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án như thế nào?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Để áp dụng biện pháp bảo đảm, thực hiện kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án thì việc xác định, phân chia phần quyền sở hữu, sử dụng tài sản của người phải thi hành án là công việc vô cùng quan trọng

Thu tiền và giấy tờ có giá của người phải thi hành án được thực hiện như thế nào?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Biện pháp cưỡng chế thu hồi, xử lý tiền của người phải thi hành án được áp dụng trong 3 trường hợp nào?

Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Cưỡng chế thi hành án dân sự có đặc điểm gì và được thực hiện như thế nào?

Chi phí cưỡng chế thi hành án hiện nay là bao nhiêu?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Theo quy định của pháp luật, chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự có thể do người phải thi hành án, người được thi hành án, do người thứ ba chịu hoặc do ngân sách nhà nước đảm bảo.

Khấu trừ tiền trong tài khoản và trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là biện pháp gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Khấu trừ tiền trong tài khoản và trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự đối với tài sản là tiền

Thế nào là cưỡng chế đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Khi người phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền nhưng không tự nguyện thi hành án mà họ đang có tài sản là quyền sở hữu trí tuệ thì Chấp hành viên có thể kê biên quyền sở hữu trí tuệ đó để đảm bảo thi hành án

Nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 24/07/2021

Bên có quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình