Công nghệ và chuyển giao công nghệ là gì (P2)?

2. Chuyển giao công nghệ

Theo Khoản 7 Điều 1 Luật chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2017 quy định khái niệm chuyển giao công nghệ (CGCN) như sau:

“7. Chuyển giao công nghệ là chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ hoặc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ.”

Theo WIPO cho rằng: “Li – xăng công nghệ (CGCN) chỉ diễn ra khi một trong các bên sở hữu những tài sản vô hình có giá trị, đó là tài sản trí tuệ, và do đó, chủ sở hữu có quyền pháp lý ngăn cấm người khác sử dụng các tài sản đó. Li- xăng thể hiện sự đồng ý của chủ sở hữu cho phép sử dụng tài sản trí tuệ để nhận lấy một khoản tiền hoặc tài sản khác. Việc Li – xăng công nghệ không thể xảy ra nếu không có tài sản trí tuệ”. Điều đó có nghĩa rằng: việc CGCN luôn được thực hiện khi chủ sở hữu công nghệ đã xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với công nghệ. Việc xác lập quyền này có trường hợp bắt buộc phải đăng ký, nhưng cũng có trường hợp không cần đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (ví dụ: bí mật kinh doanh, chương trình máy tính…). Theo quan điểm này, thì khi mọi người đều có quyền (sở hữu, sử dụng) đối với công nghệ, sẽ không có việc CGCN vì ai cũng có quyền khai thác sử dụng công nghệ.

Hiện nay, khái niệm CGCN được đề cập trong nhiều tài liệu, dưới nhiều góc độ khác nhau, cụ thể:

– “Cẩm nang CGCN” – tài liệu do Bộ KH&CN (dịch từ nguyên tác tiếng Anh “Technology transfer an escap training manual” của Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) thuộc Liên Hiệp quốc) biên soạn, đề cập: “CGCN nghĩa là công nghệ di chuyển qua biên giới quốc gia”;

– Nguyễn Thúy Quỳnh Mai, Nguyễn Thúy Quỳnh Loan, đưa ra khái niệm: “CGCN có thể được hiểu như sự di chuyển công nghệ từ đơn vị này đến đơn vị kia, việc chuyển giao thành công là khi đơn vị nhận công nghệ có được những hiểu biểu rõ ràng và có thể sử dụng công nghệ một cách hiệu quả. Ngược lại, nếu người nhận không nắm vững được công nghệ nhận được và không thể sử dụng được nó một cách hiệu quả thì việc chuyển giao coi như chưa thực hiện được”;

– Tài liệu tập huấn đổi mới công nghệ và quản lý đổi mới công nghệ (tài liệu quản lý công nghệ), ngoài nội dung khái niệm CGCN theo Luật CGCN được đề cập ở trên, khái niệm CGCN còn được được tổng hợp: “Theo quan điểm tổng quát: CGCN là việc đưa kiến thức kỹ thuật ra khỏi nơi đã sản sinh ra nó; Theo quan điểm quản lý công nghệ: CGCN là tập hợp các hoạt động về kỹ thuật, thương mại, pháp lý nhằm làm cho bên nhận công nghệ có được năng lực công nghệ như bên giao công nghệ trong sản xuất, kinh doanh”.

Tạm thời, tóm tắt các quan điểm về khái niệm CGCN qua 6 điểm chính cơ bản như sau:

– CGCN là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ;

– CGCN là ứng dụng công nghệ hiện có;

– CGCN là chuyển giao kiến thức có hệ thống về chế tạo một sản phẩm nào đó, ứng dụng một quy trình công nghệ nào đó hoặc cung cấp một dịch vụ nào đó;

– CGCN là tập hợp các hoạt động về kỹ thuật, thương mại, pháp lý nhằm làm cho bên nhận công nghệ có được năng lực công nghệ như bên giao công nghệ trong sản xuất, kinh doanh.

– CGCN là sự dịch chuyển công nghệ qua biên giới quốc gia;

– CGCN là chuyển giao giữa các khâu của vận động công nghệ: Nghiên cứu cơ bản -> nghiên cứu ứng dụng -> sản xuất thử, thử nghiệm -> thương mại hóa.

Từ nội dung đề cập trên, thấy rằng: khái niệm về CGCN rất đa dạng, phong phú. Các khái niệm này không đối nghịch nhau mà có tác dụng hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Tùy từng bối cảnh, điều kiện cụ thể, mà các khái niệm CGCN được đề cập phù hợp. Khái niệm CGCN trong Luật CGCN Việt Nam, hay khái niệm CGCN của WIPO chỉ là một quan điểm về CGCN. Quan điểm này được xem xét đứng trên quan điểm của bên CGCN, nó chưa khái quát, đầy đủ và phù hợp với đặc thù của một quốc gia thường xuyên phải tiếp nhận công nghệ từ nước ngoài, với khát khao có được công nghệ mới để phát triển bền vững như Việt Nam. Vì vậy, việc các ý kiến cho rằng: “điểm mâu thuẫn không thể chấp nhận được của pháp luật CGCN Việt Nam so với quan điểm về CGCN của thế giới”, nếu có chỉ ở góc độ đơn thuần về yếu tố pháp lý, về quyền chuyển giao các đối tượng sở hữu trí tuệ.

Dưới góc độ quản lý nhà nước ở cấp vĩ mô, người ta thường quan tâm và coi sự dịch chuyển công nghệ là CGCN. Bởi mối quan tâm thường được đặt ra ở cấp vĩ mô là thu hút các công nghệ mới, tiên tiến có tác dụng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hiện đại, kích thích sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, giải quyết công ăn việc làm, đóng góp cho ngân sách nhà nước; cấm hoặc hạn chế các công nghệ có tác động không tốt ảnh hưởng đến văn hóa, xã hội, môi trường. Tác giả bài báo này hoàn toàn đồng ý với quan điểm “cần quy định quản lý hoạt động CGCN đối với từng luồng CGCN: CGCN từ Việt Nam ra nước ngoài, CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam và CGCN trong nước”. Bởi mỗi loại hình CGCN theo luồng CGCN đã nêu có đặc thù riêng về đối tượng khuyến khích chuyển giao, cấm và hạn chế CGCN. Tuy nhiên, tác giả bài báo hoàn toàn không đồng ý đối với các tác giả có quan điểm coi “Chuyển dịch công nghệ không phải là CGCN”. Nếu coi chuyển dịch công nghệ không phải là CGCN thì lấy cơ sở nào để quản lý các công nghệ được chuyển giao từ nước ngoài vào Việt Nam thông qua các dự án 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), các hợp đồng nhượng quyền thương mại (có gắn với công nghệ) trong Luật Thương mại. Trong khi bên cạnh những thành tựu của việc CGCN từ các kênh này mang lại, chúng ta phải đối diện với nhiều nguy cơ, thảm họa (nếu buông lỏng quản lý nhà nước) của việc CGCN từ các kênh này, như vấn đề ô nhiễm môi trường, vấn đề chuyển giá làm thất thu thuế cho ngân sách nhà nước.

Đối với việc CGCN tiếp cận từ “chuyển giao giữa các khâu của vận động công nghệ”, nói cách khác là việc chuyển giao các kết quả nghiên cứu từ quá trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (R&D).

Khoản 1 Điều 40 Luật chuyển giao công nghệ năm 2017 quy định:

“1. Nhà nước giao quyền chủ sở hữu công nghệ đối với kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước cho tổ chức chủ trì nghiên cứu và phát triển công nghệ đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Để chi tiết hóa việc CGCN được hình thành từ kết quả R&D, được quy định bởi Luật KH&CN năm 2013 và Nghị định số 08/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 15/2014/TT-BKHCN ngày 13/6/2014 quy định trình tự, thủ tục giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách. Từ đó, cho thấy quan điểm về chuyển giao kết quả R&D giữa Luật CGCN và Luật KH&CN năm 2013 không hề có mâu thuẫn. Do vậy, theo quan điểm tác giả bài viết, không cần thiết quy định lại vấn đề này trong Luật CGCN sửa đổi, bổ sung. Việc bổ sung nếu có, là xây dựng thêm cơ chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý để các công nghệ hình thành từ kết quả R&D nhanh chóng đi vào cuộc sống. Đó cũng là con đường để thu hút các công nghệ mới, công nghệ nguồn từ nước ngoài vào Việt Nam mà lâu nay chúng ta bỏ ngỏ làm hạn chế đưa các công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh theo các luồng CGCN trong nước cũng như CGCN từ nước ngoài vào trong nước.

Như vậy, qua phần trình bày trên cho thấy, khái niệm về CGCN khá đa dạng phong phú. Vì thế, Luật CGCN cần đưa ra một định nghĩa đảm bảo tính khái quát cho phù hợp. Theo tác giả bài viết, khái niệm hiện nay của Luật CGCN tiếp cận với quan điểm WIPO về CGCN, tuy nhiên các đối tượng áp dụng Luật CGCN không dừng lại ở việc chuyển giao quyền. Nếu giữ nguyên khái niệm về CGCN như hiện nay chưa phù hợp với chính những quy định của Luật CGCN đưa ra. Để đảm bảo tính khái quát của Luật CGCN. Khái niệm về CGCN trong Luật CGCN nên định nghĩa lại là “CGCN là sự dịch chuyển công nghệ ra khỏi môi trường sản sinh ra nó”. Môi trường ở đây có thể là môi trường của quốc gia, chủ thể (tổ chức, cá nhân), công đoạn nghiên cứu triển khai khác nhau…

Xem thêm: Tổng hợp bài viết về công nghệ và chuyển giao công nghệ.

Luật Hoàng Anh

 

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự nhằm mục đích kịp thời ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án của người phải thi hành án

Điều kiện và hồ sơ xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Công tác xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước cho người phải thi hành án thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước

Khi nào thì phải phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Biện pháp phong tỏa tài khoản là biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền và họ có tiền gửi trong tài khoản ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác.

Tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự là tiền đề cho việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự kê biên, xử lí tài sản của người phải thi hành án; cưỡng chế trả vật, chuyển quyền sử dụng đất.

Thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Pháp luật quy định cơ quan nào có thẩm quyền xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước, thủ tục thực hiện cũng như kháng nghị quyết định của Toà án về vấn đề này như thế nào?

Thế nào là tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Tạm giữ tài sản của đương sự là biện pháp bảo đảm thi hành án được tiến hành trên các động sản của người phải thi hành án, đặt những động sản này trong tình trạng bị hạn chế quyền sử dụng, định đoạt nhằm ngăn chặn việc người phải thi hành án tẩu tán, hủy

Giám sát công tác xử lý vi phạm hành chính là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

uy định giám sát công tác xử lý vi phạm hành chính được quy định tại Điều 19, Luật XLVPC năm 2012

Áp dụng Luật xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính ở ngoài lãnh thổ nước Việt Nam là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Điều 20, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định Áp dụng Luật xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam