Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại trong quan hệ thực hiện công việc không có ủy quyền?

1.Căn cứ pháp lý

Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại trong quan hệ dân sự thực hiện công việc không có ủy quyền đặt ra với người thực hiện công việc. Bởi họ là người tác động trực tiếp đến công việc của người khác, bằng hành vi của mình họ thực hiện công việc đó mà không có ủy quyền hay thỏa thuận gì với người có công việc. Trong quá trình đó nếu xảy ra sai sót thì sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của bên có công việc. Vì vậy,  pháp luật đã ghi nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thực hiện công việc. Điều 577 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của người thực hiện công việc như sau:

Điều 577. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
1. Khi người thực hiện công việc không có ủy quyền cố ý gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì phải bồi thường thiệt hại cho người có công việc được thực hiện.
2. Nếu người thực hiện công việc không có ủy quyền do vô ý mà gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì căn cứ vào hoàn cảnh đảm nhận công việc, người đó có thể được giảm mức bồi thường”

2.Nội dung

Bản chất của thực hiện công việc không có ủy quyền nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể trong lúc khó khăn. Chủ thể thực hiện công việc hoàn dựa trên sự tự nguyện, tức công việc được thực hiện trong quan hệ này không phải là một nghĩa vụ pháp lý có tính chất bắt buộc. Chủ thể có thực hiện hay không thực hiện công việc đó thì cũng không phải gánh chịu bất kỳ chế tài nào. Trước thời điểm thực hiện công việc, giữ hai bên không có bất kỳ ràng buộc pháp lý hay thỏa thuận nào. Tuy nhiên, sau khi bắt đầu thực hiện công việc thì chủ thể thực hiện phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, tức việc thực hiện công việc lúc này đã trở thành nghĩa vụ bắt buộc với bên thực hiện và được ghi nhận tại Điều 575 BLDS năm 2015. Việc vi phạm nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của người thực hiện công việc không có ủy quyền cũng giống như nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nói chung, chỉ phát sinh khi có đầy đủ 04 điều kiện sau:
-Một là, phải có hành vi vi phạm nghĩa vụ. Bên thực hiện công việc có nghĩa vụ phát sinh kể từ thời điểm bắt đầu thực hiện công việc quy định tại Điều 575 BLDS năm 2015. Nhưng chủ thể đã không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đó. Hành vi vi phạm đó có thể nằm trong ý chí của chủ thể hoặc không, họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ với mong muốn xảy ra thiệt hại. Bản chất của thực hiện công việc không có ủy quyền là xuất phát từ thiện chí của người thực hiện công việc, nhằm đem lại lợi ích cho người có công việc. Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhằm hạn chế trường hợp, chủ thể lợi dụng thực hiện công việc không có ủy quyền để trục lợi cá nhân, gây thiệt hại cho người có công việc. Đồng thời nâng cao ý thức của chủ thể trong việc hoàn thành đúng, đầy đủ nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
-Hai là, có thiệt hại xảy ra. Bản chất của bồi thường thiệt hại là nhằm bù đắp cho những tổn thất, thiệt hại xảy ra với bên bị vi phạm. Do đó, để làm phát sinh trách nhiệm của bên thực hiện công việc trong việc bồi thường thiệt hại, thì bên có công việc phải có thiệt hại xả ra trên thực tế. Đó có thể là thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần.
-Ba là, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ và thiệt hại xảy ra. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là hậu quả bất lợi mà chủ thể phải gánh chịu khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ gây nên thiệt hại cho chủ thể khác. Như vậy, hành vi vi phạm của bên thực hiện công việc dẫn đến thiệt hại thì làm phát nghĩa vụ bồi thường cho bên có công việc. Điều đó đồng nghĩa với việc nếu người thực hiện công việc có hành vi vi phạm, công việc có thiệt hại nhưng nguyên nhân không xuất phát từ hành vi vi phạm của người thực hiện thì họ cũng không phải chịu trách nhiệm bồi thường. 
-Bốn là, người thực hiện công việc có lỗi. Yếu tố lỗi được hiểu là chủ thể bằng hành vi của mình tác động đến công việc gây nên thiệt hại. Đó có thể là lỗi cố ý hoặc vô ý. Nhưng chủ thể vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi gây thiệt hại của mình. Khác với sự tác động của các yếu tố khách quan, nằm ngoài ý chí, dự liệu của các bên, khi đó chủ thể được loại trừ nghĩa vụ bồi thường. 
Trong quá trình thực hiện công việc không có ủy quyền, hành vi vi phạm nghĩa vụ của người thực hiện dù là cố ý hay vô ý, thì cũng có thể đem lại cho người có công việc những tổn thất không mong muốn. Khi việc thực hiện công việc không có ủy quyền đã gây ra thiệt hại thì người thực hiện công việc phải chịu trách nhiệm bồi thường. Căn cứ vào ý chí của chủ thể trong việc vi phạm nghĩa vụ, mà pháp luật quy định nghĩa vụ bồi thường khác nhau:
-Một là, người thực hiện công việc cố ý gây thiệt hại. Cố ý là ý chí của chủ thể mong muốn thiệt hại xảy ra, nó thể hiện thông qua hành vi tác động tiêu cực vào công việc khiến cho công việc bị tổn thất, thiệt hại. Khi người thực hiện công việc không có ủy quyền cố ý gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại cho người có công việc được thực hiện. Mức bồi thường có thể do các bên thỏa thuận.
-Hai là, người thực hiện công việc vô ý gây nên thiệt hại. Vô lý là ý chí của chủ thể không mong muốn thiệt hại xảy ra, họ tin tưởng việc mình làm không sao nhưng trên thực tế lại gây nên thiệt hại. Mặc dù chủ thể mắc lỗi vô ý gây thiệt hại vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường, nhưng đó là căn cứ để xác định giảm mức bồi thường thiệt hại. Theo đó, nếu người thực hiện công việc không có ủy quyền vô ý mà gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì căn cứ vào hoàn cảnh đảm nhận công việc, người đó có thể được giảm mức bồi thường. Tuy nhiên, pháp luật lại không quy định rõ hoàn cảnh đảm nhận công việc để có thể giảm mức bồi thường là như thế nào. Do đó, có thể xác định theo từng trường hợp cụ thể, đó có thể là sự khó khăn, phức tạp của công việc; cũng có thể hoàn cảnh sống, điều kiện của người thực hiện công việc; hoặc tại thời điểm họ bắt đầu thực hiện công việc nếu không có họ thì công việc sẽ bị thiệt hại nặng nề như thế nào,…

 Xem thêm: Tổng hợp các bài viết hỏi đáp Luật Dân sự

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Bên ủy quyền có quyền gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 22/09/2021

Yêu cầu bên được ủy quyền thông báo đầy đủ về việc thực hiện công việc ủy quyền...

Hứa thưởng là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 22/09/2021

Hứa thưởng là cam kết của một bên về việc trả thưởng cho bên kia nếu họ đạt được điều kiện mà bên hứa thưởng đưa ra.

Bên ủy quyền có nghĩa vụ gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 22/09/2021

Cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết để bên được ủy quyền thực hiện công việc...

Nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền?

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/09/2021

Người thực hiện công việc không có ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc phù hợp với khả năng, điều kiện của mình...

Thực hiện nghĩa vụ trả thưởng?

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/09/2021

Trường hợp một công việc được hứa thưởng do một người thực hiện thì khi công việc hoàn thành, người thực hiện công việc đó được nhận thưởng...

Thực hiện công việc không có ủy quyền là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/09/2021

Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người khác

Nghĩa vụ thanh toán khi được thực hiện công việc không có ủy quyền?

Hỏi đáp luật Dân Sự 24/09/2021

Người có công việc được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc không có ủy quyền bàn giao công việc và thanh toán các chi phí hợp lý...

Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật?

Hỏi đáp luật Dân Sự 24/09/2021

Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó