Những trường hợp nào không được bù trừ nghĩa vụ?

Bù trừ nghĩa vụ là một trong những căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù mà trong một số trường hợp các bên không được phép bù trừ nghĩa vụ. Điều 379 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về các trường hợp không được bù trừ nghĩa vụ như sau:

Điều 379. Những trường hợp không được bù trừ nghĩa vụ
Nghĩa vụ không được bù trừ trong trường hợp sau đây:
1. Nghĩa vụ đang có tranh chấp;
2. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín;
3. Nghĩa vụ cấp dưỡng;
4. Nghĩa vụ khác do luật quy định”.

1.Khái niệm

-Bên có nghĩa vụ bị ràng buộc trong quan hệ với bên có quyền cho đến khi nghĩa vụ đó chấm dứt. Chấm dứt nghĩa  vụ có thể hiểu là việc một người có nghĩa vụ phải giao một tài sản hoặc thực hiện một công việc nhằm đáp ứng lợi ích cho bên có quyền sẽ không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Việc chấm dứt nghĩa vụ sẽ giải phóng cho bên có nghĩa vụ khỏi việc thực hiện nghĩa vụ mà không bị xem là vi phạm và phải chịu bất kỳ một chế tài nào. Nói cách khác, chấm dứt nghĩa vụ là chấm dứt quan hệ giữa bên có nghĩa vụ và bên có quyền, theo đó bên có quyền không được tiếp tục thực hiện quyền yêu cầu của mình, bên có nghĩa vụ cũng không cần phải thực hiện nghĩa vụ nữa.
-Các chủ thể có thể cùng lúc tham gia nhiều hơn một giao dịch với nhau, trong đó, có thể trong quan hệ ngày chủ thể này có quyền, nhưng trong quan hệ khác chủ thể đó lại có nghĩa vụ. Chính vì vậy, có thể nói các bên có thể có quan hệ nghĩa vụ có thể bù trừ cho nhau. Theo đó, bù trừ nghĩa vụ được hiểu là việc hai bên cùng có nghĩa vụ cùng loại đến thời hạn thì bù trừ nghĩa vụ cho nhau. Ví dụ: A mượn tiền của B, nhưng B cũng mua điện thoại của B chưa thanh toán tiền, lúc này quan hệ nghĩa vụ của hai bên có thể bù trừ cho nhau. Theo đó, A không phải trả nợ cho B, B cũng không phải thanh toán tiền mua điện thoại cho A nữa (giá trị khoản vay bằng giá trị chiếc điện thoại).

2.Trường hợp không được bù trừ nghĩa vụ

Thông thường, khi cả hai bên đều có nghĩa vụ cùng loại thì có thể bù trừ nghĩa vụ cho nhau. Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt, để bảo vệ quyền lợi của các bên và của người khác, pháp luật đã quy định 04 trường hợp không được bù trừ nghĩa vụ, cụ thể:
-Trường hợp 1: Nghĩa vụ đang có tranh chấp. Là quan hệ nghĩa vụ đang có mâu thuẫn, bất đồng và yêu cầu giải quyết của một bên trong quan hệ. Nghĩa vụ đang có tranh chấp về đối tượng, nội dung,…Do đó cần có một quyết định của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Trong một quan hệ mà quyền và nghĩa vụ của các bên vẫn chưa thể xác định được thì việc thực hiện bù trừ sẽ làm ảnh hưởng đến lợi ích của những người có liên quan đến quan hệ đó. Vì vậy, với nghĩa vụ đang có tranh chấp không thể đưa vào để thực hiện bù trừ.
-Trường hợp 2: Nghĩa vụ bồi thường do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín. Đây là một loại nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân nên pháp luật không cho phép được bù trừ. Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín là những thiệt hại về tinh thần, theo lý thì không thể định giá được. Tuy nhiên, quy định về nghĩa vụ bồi thường chỉ mang tính chất bù đắp, an ủi phần nào tinh thần của người bị hại và nhân thân của họ. Đồng thời, để cảnh tỉnh bên vi phạm, để họ hiểu được hành vi sai trái của mình, để không tái phạm nữa. Do đó, nếu nghĩa vụ đó được bù trừ thì không đúng với ý nghĩa mà pháp luật hướng tới khi quy định nó nữa. 
-Trường hợp 3: Nghĩa vụ cấp dưỡng. Cũng như nghĩa vụ quy định tại trường hợp hai, nghĩa vụ cấp dưỡng cũng là một nghĩa vụ tài sản gắn liền với nhân thân của người cấp dưỡng và người nhận cấp dưỡng. Chỉ những người trong hoàn cảnh và có mối quan hệ nhất định theo quy định của pháp luật mới có mối quan hệ cấp dưỡng với nhau. Khoản 24 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này”. VIệc cấp dưỡng nhằm mục đích đảm bảo mức sống tối thiểu của người được cấp dưỡng, đó là nguồn sống của họ. Do đó, nếu nghĩa vụ cấp dưỡng mà được bù trừ thì sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ. Chính vì vậy, mà nghĩa vụ cấp dưỡng không thể bù trừ, bên có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng của mình. Khoản 1 Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng ghi nhận: “Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác”.
-Trường hợp 4: Nghĩa vụ khác do pháp luật quy định. Đây là trường hợp pháp luật dự liệu với các nghĩa vụ không được bù trừ. Nếu luật khác có quy định về trường hợp không được bù trừ nghĩa vụ thì các bên phải tuân theo. 

 Xem thêm: Tổng hợp các bài viết hỏi đáp Luật Dân sự

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật?

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/07/2021

Khi bên mang nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ giao vật, mang lại những thiệt hại không nhỏ cho bên có quyền

Trách nhiệm do không thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/07/2021

Đối tượng của quan hệ nghĩa vụ ngoài tài sản có thể là công việc phải thực hiện hoặc không phải thực hiện

Trách nhiệm do chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/07/2021

Bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ làm phát sinh thiệt hại cho bên có nghĩa vụ thì phải bồi thường thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/07/2021

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đặt ra khi bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại cho bên có quyền.

Nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 24/07/2021

Bên có quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình

Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 24/07/2021

Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần

Lỗi trong trách nhiệm dân sự là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 24/07/2021

Lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý.

Bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi?

Hỏi đáp luật Dân Sự 24/07/2021

Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình