Quy định pháp luật về bán tài sản cầm cố, thế chấp?

Bán tài sản cầm cố, thế chấp là một trong những phương thức xử lý tài sản bảo đảm. Điều 304 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc bán tài sản cầm cố, thế chấp như sau:

Điều 304. Bán tài sản cầm cố, thế chấp
1. Việc bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
2. Việc tự bán tài sản cầm cố, thế chấp của bên nhận bảo đảm được thực hiện theo quy định về bán tài sản trong Bộ luật này và quy định sau đây:
a) Việc thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản được thực hiện theo quy định tại Điều 307 của Bộ luật này;
b) Sau khi có kết quả bán tài sản thì chủ sở hữu tài sản và bên có quyền xử lý tài sản phải thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua tài sản”

Bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp bao gồm cả phương thức bán đấu giá và bán trực tiếp tài sản của bên bảo đảm. 

1.Bán đấu giá

Trường hợp các bên có thỏa thuận trong giao dịch bảo đảm là xử lý tài sản bảo đảm theo phương thức bán đấu giá tài sản, khi bên bảo đảm không thực hiện nghĩa vụ. Thì bên nhận bảo đảm có quyền ký hợp đồng bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá, để thu hồi nợ và bảo vệ lợi ích của mình. Phương thức này còn được áp dụng trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm. Việc bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá. 

2. Bán tài sản cầm cố

Bên nhận cầm cố có thể tự bán tài sản cầm cố trực tiếp cho bên mua tài sản, khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đầy đủ. Việc bán tài sản cầm cố được thực hiện theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng bảo đảm. Theo đó, bên nhận bảo đảm có thể tự bán tài sản cho một người thứ ba bất kỳ mà không cần sự đồng ý của bên bảo đảm. Xử lý tài sản theo phương thức này làm phát sinh hợp đồng mua bán tài sản giữa bên nhận bảo đảm và bên mua tài sản. Nếu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu tài sản, thì hợp đồng bảo đảm giữ bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm sẽ là căn cứ để thực hiện đăng ký quyền sở hữu tài sản cho bên mua.
Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trả cho bên bảo đảm. Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bổ sung tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán.

 Xem thêm: Tổng hợp các bài viết hỏi đáp Luật Dân sự

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Quy định pháp luật về giao tài sản bảo đảm để xử lý?

Hỏi đáp luật Dân Sự 06/07/2021

Người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý

Quy định pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm?

Hỏi đáp luật Dân Sự 06/07/2021

Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.

Quy định của pháp luật về hiệu lực đối kháng với người thứ ba?

Hỏi đáp luật Dân Sự 06/07/2021

Biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ khi đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm

Tài sản cầm cố, thế chấp được xử lý theo phương thức nào?

Hỏi đáp luật Dân Sự 07/07/2021

Theo quy định trên, bên nhận bảo đảm được xử lý tài sản bảo đảm bằng biện pháp bảo đảm cầm cố, thế chấp khi đến hạn theo thỏa thuận