Quy định pháp luật về giao tài sản bảo đảm để xử lý?

1.Căn cứ pháp lý

Điều 301 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về giao tài sản bảo đảm để xử lý như sau:

Điều 301. Giao tài sản bảo đảm để xử lý
Người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này.
Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”

2.Nội dung

-Người giữ tài sản bảo đảm có thể là bên mang nghĩa vụ hoặc người thứ ba, phải chuyển giao tài sản cho bên nhận bảo đảm tiến hành xử lý tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản trong các trường hợp theo quy định tại Điều 299 BLDS năm 2015. Đối với người giữ tài sản là người thứ ba, để bảo vệ quyền lợi của bên nhận tài sản bảo đảm pháp luật cho phép họ được quyền truy đòi tài sản từ người thứ ba đang giữ tài sản theo quy định tại Điều 297 BLDS năm 2015. Tuy nhiên, cũng có trường hợp tài sản do chính bên nhận bảo đảm giữ (trong trường hợp áp dụng biện pháp bảo đảm như: cầm cố, đặt cọc,..), thì bên nhận bảo đảm được trực tiếp xử lý tài sản bảo đảm mà mình đang nắm giữ và thông báo cho các chủ thể liên quan biết. Trong trường hợp này, do tài sản bảo đảm đã do bên nhận bảo đảm nắm giữ từ trước, nên bên bảo đảm không có nghĩa vụ phải giao tài sản nữa.
-Tuy nhiên, cũng có trường hợp bên bảo đảm hoặc người thứ ba cố tình không giao tài sản, làm ảnh hưởng đến quá trình xử lý tài sản, thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, quy định này cũng nhằm ngăn ngừa trường hợp bên nhận bảo đảm cố ý gây mất trật tự xã hội hoặc cưỡng đoạt tài sản trái pháp luật.
-Ngoài ra, Điều 52 nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật Dân sự về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, cũng có quy định về giao tài sản cầm cố, thế chấp như sau: Các bên có thể thỏa thuận về việc giao một phần hoặc toàn bộ tài sản bảo đảm. Trường hợp bên bảo đảm hoặc người đang giữ tài sản vì quyền lợi của mình mà không giao tài sản bảo đảm thì bên nhận bảo đảm có quyền xem xét, kiểm tra thực tế tài sản bảo đảm để ngăn chặn việc tẩu tán tài sản bảo đảm, để xử lý hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền của mình. Trường hợp người giữ tài sản bảo đảm là người thứ ba thì bên bảo đảm và người giữ tài sản có trách nhiệm phối hợp với bên nhận bảo đảm thực hiện việc xem xét, kiểm tra thực tế tài sản bảo đảm. Bên bảo đảm hoặc người đang giữ tài sản bảo đảm không giao tài sản bảo đảm theo thỏa thuận hoặc không giao tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 301 của Bộ luật Dân sự, không phối hợp hoặc có hành vi cản trở việc xem xét, kiểm tra thực tế tài sản bảo đảm mà gây thiệt hại cho bên nhận bảo đảm thì phải bồi thường.

 Xem thêm: Tổng hợp các bài viết hỏi đáp Luật Dân sự

Luật Hoàng Anh.

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Quy định của pháp luật về một tài sản dùng để đảm bảo thực hiện nhiều nghĩa vụ

Hỏi đáp luật Dân Sự 05/07/2021

Một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu có giá trị lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 05/07/2021

Đảm bảo thực hiện nghĩa vụ là sự quy định của pháp luật về các biện pháp để đảm bảo chắc chắn rằng một nghĩa vụ sẽ được thực hiện

Thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm?

Hỏi đáp luật Dân Sự 06/07/2021

Bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác

Tài sản bảo đảm bị xử lý trong trường hợp nào?

Hỏi đáp luật Dân Sự 06/07/2021

Xử lý tài sản bảo đảm là việc bên nhận bảo đảm thực hiện một trong các phương thức xử lý tài sản đảm bảo mà pháp luật quy định