Quy định pháp luật về việc thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp?

1.Căn cứ pháp lý

Số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp được thanh toán theo quy định tại Điều 307 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể:

Điều 307. Thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp
1. Số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp được thanh toán theo thứ tự ưu tiên quy định tại Điều 308 của Bộ luật này.
2. Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trả cho bên bảo đảm.
3. Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bổ sung tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán”

2.Nội dung

-Khi tiến hành xử lý tài sản tài sản bảo đảm làm phát sinh các chi phí như: chi phí định giá tài sản, chi phí chuyển quyền sở hữu,…cùng với đó là chi phí cho việc bảo quản, thu giữ tài sản. Tất cả sẽ được trừ đi khi xử lý tài sản. Theo đó, số tiền có được từ việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ được tiến hành thanh toán sau khi đã trừ hết những khoản chi phí trên. 
-Sau khi thanh toán toàn toàn bộ nghĩa vụ và các chi phí liên quan đến xử lý tài sản mà vẫn còn dư tiền (trường hợp giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị nghĩa vụ), số tiền chênh lệch đó sẽ phải trả lại cho bên bảo đảm. Ngược lại, nếu số tiền xử lý tài sản không đủ để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ (trường hợp giá trị tài sản bảo đảm nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ), thì bên nhận bảo đảm không có quyền yêu cầu bên bảo đảm bổ sung tài sản đảm bảo trừ trường hợp có thỏa thuận, vì, ngay từ khi giao kết hợp đồng bảo đảm bên nhận bảo đảm có trách nhiệm phải định giá tài sản bảo đảm. Nếu bên nhận bảo đảm không tiến hành định giá, hoặc đã biết giá trị tài sản bảo đảm nhỏ hơn nghĩa vụ chính mà vẫn đồng ý giao kết hợp đồng, thì bên nhận bảo đảm phải chịu rủi ro cho phần giá trị chênh lệch không có bảo đảm đó. Mặc dù, pháp luật cho phép họ có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa thanh toán, nhưng trên thực tế bên có nghĩa vụ có thể chây ỳ không chịu thực hiện nghĩa vụ đó, dẫn đến thiệt hại cho bên có quyền.
-Thông thường bên cầm cố, thế chấp sẽ đồng thời là bên có nghĩa vụ, tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định bên cầm cố, thế chấp có thể là bên thứ ba không phải chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm, giao tài sản của mình cho bên có quyền để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Căn cứ theo quy định trên, thì khi xử lý tài sản bảo đảm mà giá trị của tài sản nhỏ hơn giá trị của nghĩa vụ, thì bên nhận bảo đảm chỉ có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán phần nghĩa vụ còn thiếu. Còn bên cầm cố, thế chấp chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi giá trị tài sản cầm cố, thế chấp, mà không có nghĩa vụ phải thanh toán phần nghĩa vụ còn thiếu. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định chủ thể bị yêu cầu (bị khởi kiện) thực hiện tiếp phần nghĩa vụ chưa được thanh toán, đó là bên có nghĩa vụ được bảo đảm.

 Xem thêm: Tổng hợp các bài viết hỏi đáp Luật Dân sự

Luật Hoàng Anh

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Quy định pháp luật về bán tài sản cầm cố, thế chấp?

Hỏi đáp luật Dân Sự 07/07/2021

Bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp bao gồm cả phương thức bán đấu giá và bán trực tiếp tài sản của bên bảo đảm

Tài sản bảo đảm được định giá như thế nào?

Hỏi đáp luật Dân Sự 07/07/2021

Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận về giá tài sản bảo đảm hoặc định giá thông qua tổ chức định giá tài sản khi xử lý tài sản bảo đảm.

Quy định về quyền nhận lại tài sản bảo đảm?

Hỏi đáp luật Dân Sự 07/07/2021

Bên bảo đảm được quyền nhận lại tài sản bảo đảm khi thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật

Quy định về hiệu lực của cầm cố tài sản?

Hỏi đáp luật Dân Sự 08/07/2021

Hợp đồng cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác