Quy định về quyền nhận lại tài sản bảo đảm?

1.Căn cứ pháp lý

Điều 302 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền nhận lại tài sản bảo đảm như sau:

Điều 302. Quyền nhận lại tài sản bảo đảm
Trước thời điểm xử lý tài sản bảo đảm mà bên bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với bên nhận bảo đảm và thanh toán chi phí phát sinh do việc chậm thực hiện nghĩa vụ thì có quyền nhận lại tài sản đó, trừ trường hợp luật có quy định khác”.

2.Nội dung

-Trừ trường hợp phải xử lý tài sản ngay do hư hỏng, mất mát thì không cần thông báo trước cho bên bảo đảm. Còn đối với các trường hợp xử lý tài sản thông thường, bên nhận bảo đảm phải thông báo cho bên bảo đảm biết trước một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận từ trước của các bên, hoặc nếu không có thỏa thuận thì phải thông báo trước ít nhất 10 ngày với động sản, 15 ngày đối với bất động sản tính đến thời điểm xử lý tài sản bảo đảm. Quy định về thời hạn thông báo trước thời điểm xử lý tài sản không chỉ để bên bảo đảm chuẩn bị giao tài sản bảo đảm, mà còn tạo điều kiện để họ thực hiện nghĩa vụ của mình. Có thể đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ họ vẫn chưa đủ khả năng thanh toán, tuy nhiên sau đó họ đã có đủ điều kiện để thực hiện nghĩa vụ của mình và mong muốn nhận lại tài sản bảo đảm, thì pháp luật cho phép họ được nhận lại tài sản bảo đảm. Theo đó, để được nhận lại tài sản bảo đảm trước khi tài sản bị xử lý thì, bên bảo đảm phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với bên nhận bảo đảm bao gồm: nghĩa vụ chính, chi phí phát sinh do việc chậm thực hiện nghĩa vụ. 
-Ngoài ra bên bảo đảm còn có thể nhận lại tài sản trong các trường hợp quy định tại Điều 57 nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật Dân sự về xử lý tài sản bảo đảm, cụ thể:

Điều 57. Nhận lại tài sản bảo đảm
1. Bên bảo đảm được nhận lại tài sản bảo đảm trong trường hợp sau đây:
a) Hoàn thành nghĩa vụ quy định tại Điều 302 của Bộ luật Dân sự;
b) Tài sản bảo đảm đã được thay thế, được trao đổi bằng tài sản khác;
c) Nghĩa vụ được bảo đảm đã được thanh toán bằng phương thức bù trừ nghĩa vụ;
d) Trường hợp khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định tài sản bảo đảm không bị xử lý.
2. Trường hợp thuộc khoản 1 Điều này mà pháp luật về đấu giá tài sản, pháp luật khác liên quan có quy định về nghĩa vụ phải thực hiện trước khi được nhận lại tài sản bảo đảm thì bên bảo đảm chỉ được nhận lại tài sản sau khi nghĩa vụ này được hoàn thành”

-Vì một lý do nào đó, mà bên bảo đảm không muốn thanh lý tài sản bảo đảm nhưng cũng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ, mà vẫn muốn nhận lại tài sản bảo đảm thì pháp luật cho phép họ được thay thế, trao đổi tài sản bảo đảm khác. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho bên nghĩa vụ được nhận lại tài sản bảo đảm quan trọng. Ví dụ: A vay ngân hàng một khoản tiền để mua thuyền đánh bắt nhằm mục đích mưu sinh, tài sản thế chấp là chính chiếc thuyền đó. Hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà A không đủ khả năng trả nợ, theo lý tài sản bảo đảm là chiếc thuyền sẽ bị thanh lý để đảm bảo cho khoản vay của A. Tuy nhiên, đó là công cụ mưu sinh của cả gia đình, do đó, A có thể đổi tài sản thế chấp từ chiếc thuyền sang một tài sản khác có giá trị lớn hơn nghĩa vụ. Quy định này vừa thể hiện tính nhân văn của pháp luật, vừa cân bằng quyền lợi của cả hai bên trong quan hệ bảo đảm. 
-Trường hợp hai bên có cùng nghĩa vụ về tài sản cùng loại đối với nhau, thì khi cùng đến hạn nghĩa vụ đó có thể bù trừ cho nhau, tức họ không phải thực hiện nghĩa vụ với nhau và nghĩa vụ đó được xem như là chấm dứt. Ví dụ: A vay B 20 triệu đồng (thế chấp chiếc xe máy), A có nghĩa vụ trả nợ cho B. Tuy nhiên, cùng với đó B thuê xe oto của A và gây ra tai nạn làm xe bị hư hỏng, lúc này B có nghĩa vụ phải bồi thường cho A chi phí sửa chữa xe cùng chi phí thuê xe. A và B được xác định là có nghĩa vụ bù trừ cho nhau, cả hai sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Nghĩa vụ chấm dứt, tài sản bảo đảm được trả lại cho bên bảo đảm. 
Nguyên tắc chung khi nhận lại tài sản bảo đảm, là bên bảo đảm chỉ được nhận lại tài sản bảo đảm sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ của mình.

 Xem thêm: Tổng hợp các bài viết hỏi đáp Luật Dân sự

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Quy định của pháp luật về hiệu lực đối kháng với người thứ ba?

Hỏi đáp luật Dân Sự 06/07/2021

Biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ khi đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm

Tài sản cầm cố, thế chấp được xử lý theo phương thức nào?

Hỏi đáp luật Dân Sự 07/07/2021

Theo quy định trên, bên nhận bảo đảm được xử lý tài sản bảo đảm bằng biện pháp bảo đảm cầm cố, thế chấp khi đến hạn theo thỏa thuận

Quy định pháp luật về bán tài sản cầm cố, thế chấp?

Hỏi đáp luật Dân Sự 07/07/2021

Bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp bao gồm cả phương thức bán đấu giá và bán trực tiếp tài sản của bên bảo đảm

Tài sản bảo đảm được định giá như thế nào?

Hỏi đáp luật Dân Sự 07/07/2021

Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận về giá tài sản bảo đảm hoặc định giá thông qua tổ chức định giá tài sản khi xử lý tài sản bảo đảm.