2
Tư vấn mở chuỗi kinh doanh nhượng quyền thương mại
MỤC LỤC
Cùng chuyên mục
Quyền của bên cho mượn tài sản là những gì bên cho mượn được hưởng khi tham gia hợp đồng cho mượn tài sản. Bên cạnh nghĩa vụ phải thực hiện theo quy định của pháp luật, thì quyền là cơ sở để bên cho mượn tự bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Điều 499 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền của bên cho mượn tài sản như sau:
“Điều 499. Quyền của bên cho mượn tài sản
1. Đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thỏa thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý.
2. Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn.
3. Yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản do bên mượn gây ra”
Hợp đồng cho mượn là hợp đồng không đền bù, có thể nói bên cho mượn không được bất kỳ lợi ích gì từ việc tham gia giao kết hợp đồng cho mượn tài sản. Bên cho mượn chuyển giao tài sản cho bên mượn sử dụng trong một thời hạn nhất định nhằm mục đích tương trợ, giúp đỡ cho bên mượn. Việc bên mượn nắm giữ, sử dụng tài sản của bên mượn có thể gây ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của bên cho mượn. Do đó, bên cho mượn cần thiết được pháp luật trao quyền để tự bảo vệ lợi ích của mình. Cụ thể, bên cho mượn có các quyền sau:
Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận cụ thể, bên cho mượn tài sản có quyền đòi lại tài sản trong các trường hợp sau:
-Một là, đòi lại tài sản khi ben mượn đạt được mục đích. Thông thường, các bên có thỏa thuận về thời hạn mượn tài sản, theo đó, khi hết thời hạn thỏa thuận bên mượn phải chủ động trả lại tài sản cho bên mượn. Tuy nhiên, trong trường hợp các bên không thỏa thuận về thời hạn mượn tài sản, thì thời hạn trả tài sản được xác định là ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích sử dụng tài sản. Do đó, khi bên mượn đạt được mục đích sử dụng tài sản thì bên cho mượn có quyền đòi lại tài sản. Quy định này tương ứng với quy định về nghĩa vụ trả lại tài sản sau khi sử dụng xong của bên mượn tại khoản 3 Điều 496 BLDS năm 2015.
-Hai là, đòi lại tài sản khi có nhu cầu đột xuất và cấp bách sử dụng tài sản cho mượn. Xuất phát từ tính chất không đền bù của hợp đồng cho mượn tài sản mà pháp luật quy định về quyền này của bên cho mượn. Theo đó, bên mượn được khai thác, sử dụng tài sản không phải trả một giá trị vật chất nào từ việc sử dụng tài sản, nên pháp luật cho phép bên cho mượn được đòi lại tài sản nếu chủ thể này có nhu cầu sử dụng đột xuất và cấp bách tài sản cho mượn. Lưu ý rằng, nhu cầu sử dụng tài sản của bên cho mượn phải đột xuất và cấp bách. Bên cạnh đó, điều kiện nữa mà bên cho mượn phải tuân theo khi đòi lại tài sản tư bên mượn dù họ chưa đạt được mục đích sử dụng là phải thông báo trước một thời hạn hợp lý. Nhưng nếu ghép điều kiện thông báo trước một thời hạn hợp lý, với nhu cầu sử dụng tài sản cấp bách và đột xuất thì việc thông báo trước trong một số trường hợp trên thực tế có thể không khả thi.
-Ba là, đòi lại tài sản khi bên mượn tài sản sử dụng tài sản không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận. Khi bên mượn tài sản vi phạm nghĩa vụ sử dụng tài sản đúng mục đích, công dụng, cách thức sử dụng tài sản, bên cho mượn có quyền đòi lại tài sản của mình. Quy định này cho phép bên cho mượn tài sản được đảm bảo giá trị sử dụng, tình trạng tài sản của mình. Việc đòi lại tài sản nhằm tránh thiệt hại xảy ra với tài sản, hơn nữa bên mượn là bên có lỗi, do đó, họ không có quyền được tiếp tục sử dụng tài sản.
-Bốn là, đòi lại tài sản nếu bên mượn tài sản cho chủ thể khác mượn lại tài sản mà không có sự đồng ý của bên cho mượn. Về nguyên tắc, bên mượn tài sản chỉ có thể cho bên thứ ba mượn lại tài nếu được sự đồng ý của bên cho mượn tài sản. Việc cho mượn lại tài sản được xác định là định đoạt tài sản, mà chỉ chủ sở hữu mới có quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình. VIệc cho mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn là chủ sở hữu tài sản bị xem là xâm phạm đến quyền sở hữu, cụ thể là quyền định đoạt tài sản. Vì vậy, sự đồng ý của bên cho mượn trong trường hợp cho mượn lại tài sản là điều cần thiết. Đây là nghĩa vụ bắt buộc mà bên mượn tài sản phải tuân thủ theo khi sử dụng tài sản của chủ thể khác. Do đó, khi bên mượn vi phạm nghĩa vụ này thì bên cho mượn với tư cách là chủ sở hữu của tài sản, là chủ thể có quyền được đòi lại tài sản của mình.
Yêu cầu bồi thường thiệt hại đặt ra khi bên mượn tài sản có lỗi, gây thiệt hại đối với tài sản mượn. Pháp luật quy định về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của bên mượn khi làm mất, hư hỏng tài sản mượn. Theo đó, bên mượn phải chủ động thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bên cho mượn tài sản nếu gây thiệt hại cho tài sản. Trường hợp bên mượn không thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì bên cho mượn có quyền yêu cầu bên mượn thực hiện nghĩa vụ với mình. Ghi nhận quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại có ý nghĩa trong việc bảo vệ lợi ích của bên cho mượn tài sản. Đồng thời quy định nỳ cũng buộc bên mượn có trách nhiệm, ý thức trong việc quản lý, bảo quản, giữ gìn tài sản.
Xem thêm: Tổng hợp các bài viết hỏi đáp Luật Dân sự
Luật Hoàng Anh
Luật sư NGUYỄN ĐÌNH HIỆP - Những con số biết nói
Với 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn pháp lý, Luật sư Nguyễn Đình Hiệp có sự am hiểu sâu sắc hệ thống pháp luật Việt Nam và triển khai thành công rất nhiều các vụ việc như:
2
Tư vấn mở chuỗi kinh doanh nhượng quyền thương mại
2
Tư vấn cấp Giấy phép viễn thông cho doanh nghiệp Việt Nam
8
Tư vấn pháp lý thường xuyên cho các doanh nghiệp Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc. Tiêu biểu như Công ty CP Tập đoàn Bình Minh, Công ty CP DV Viễn thông Hải Phòng
10
Tư vấn, xử lý thu hồi công nợ và khởi kiện/khởi tố các đối tượng có nợ khó đòi
10
Tư vấn pháp lý đầu tư, giấy phép, chuyển nhượng các dự án khoáng sản. Tiêu biểu như Dự án khai thác Khoáng sản của Công ty khoáng sản An Vượng tại huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình (50ha).
15
Tư vấn pháp lý dự án đầu tư mở rộng sản xuất. Tiêu biểu như Dự án sản xuất 50 triệu sản phẩm điện tử thanh toán Công ty TNHH ST Vina (Hàn Quốc); Dự án mở rộng quy mô sản xuất của Công ty TNHH RFTech Việt Nam lên 20 triệu đô la Mỹ;
20
Tư vấn hợp đồng chuyển giao công nghệ và thực hiện thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ (hầu hết là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)
20
Tư vấn pháp lý dự án đầu tư bất động sản. Tiêu biểu như Dự án khu nghỉ dưỡng tại Vịnh Lan Hạ, thành phố Hải Phòng (30ha); Khu du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng Avana Mai Chau Hideway, tỉnh Hòa Bình (32ha)
30
Tư vấn, thành lập các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong các lĩnh vực. Tiêu biểu như Dự án nhà máy sản xuất của Công ty Mass Well Limited, Công ty Modern Shine Limited tại Trung tâm công nghiệp GNP Yên Bình
300
Tư vấn hồ sơ công bố sản phẩm, hồ sơ phòng cháy chữa cháy, hồ sơ an toàn vệ sinh thực phẩm, đăng ký mã số mã vạch, đăng ký/thông báo website…
500
Tư vấn bảo hộ nhãn hiệu (thương hiệu), quyền tác giả, sáng chế
700
Tư vấn, thực hiện các thủ tục, giấy phép con như: Giấy phép lao động cho người nước ngoài, cấp phép tạm trú cho người nước ngoài, Giấy phép trung tâm ngoại ngữ, Giấy phép ngành dược, Giấy phép quảng cáo…
2000
Tư vấn, thành lập các doanh nghiệp mới, chi nhánh, văn phòng đại diện trên cả nước; các thủ tục thay đổi đăng ký doanh nghiệp trên cả nước
3000
Tư vấn các vụ việc ly hôn, chia tài sản, quyền nuôi con; chia thừa kế; tranh chấp đất đai; tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và tố tụng hành chính.
Để nhận tin tức và quà tặng từ Luật Hoàng Anh