2
Tư vấn mở chuỗi kinh doanh nhượng quyền thương mại
MỤC LỤC
Cùng chuyên mục
Bên sử dịch vụ tham gia hợp đồng dịch vụ vì lợi ích của chính mình, do đó, để đảm bảo cho quyền và lợi ích của họ pháp luật đã ghi nhận các quyền cơ bản của bên sử dụng dịch vụ trong quan hệ hợp đồng với bên cung ứng dịch vụ. Cụ thể, Điều 516 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền của bên sử dụng dịch vụ như sau:
“Điều 516. Quyền của bên sử dụng dịch vụ
1. Yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”
Bên sử dụng dịch vụ là bên có nhu cầu được thực hiện một công việc nhất định. Theo đó, bên cung ứng dịch vụ theo yêu cầu của bên sử dụng, thỏa thuận trong hợp đồng thực hiện công việc và chuyển giao kết quả đó cho bên sử dụng dịch vụ. Để công việc được diễn ra thuận lợi và đạt được kết quả như mong muốn thì bên sử dụng dịch vụ được thực hiện một số quyền nhất định nhằm đảm bảo rằng bên cung ứng không vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận. Căn cứ vào quy định trên, có thể thấy pháp luật ghi nhận các quyền cơ bản của bên sử dụng dịch, bao gồm:
Bên sử dụng dịch vụ có quyền yêu cầu bên cung ứng đảm bảo thực hiện công việc theo đúng những tiêu chí đã thỏa thuận. Thực chất đây chính là quyền yêu cầu bên cung ứng thực hiện đúng, đầy đủ nội dung nghĩa vụ. Lợi ích mà bên sử dụng nhận được là kết quả thực hiện công việc của bên cung cấp, mà kết quả đó có tốt hay không hoàn toàn phụ thuộc vào quá trình thực hiện. Chỉ khi công việc thực hiện đúng và đầy đủ nội dung đã thỏa thuận thì bên sử dụng dịch vụ mới có thể nhận được lợi ích tối đa. Cụ thể, bên sử dụng có quyền yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện đúng các nội dung sau:
-Một là, yêu cầu thực hiện công việc theo đúng chất lượng. Chất lượng của công việc thể hiện ở việc công việc được thực hiện đúng quy trình, người thực hiện công việc đáp ứng điều kiện về năng lực và đem lại kết quả đúng hoặc sát với kết quả được dự liệu trước trong hợp đồng dịch vụ. Chất lượng công việc chỉ mang tính chất tương đối, bởi mỗi công việc đều có quy trình thực hiện khác nhau, và đem lại những kết quả khác nhau. Đôi khi, đối với nhiều công việc đòi hỏi cần phải có sự kết hợp của nhiều quy trình khác nhau. Do đó, nhiệm vụ của bên cung ứng là thực hiện công việc đúng như chất lượng đã thỏa thuận.
-Hai là, yêu cầu thực hiện công việc theo đúng số lượng. Số lượng công việc là phạm vi cần thực hiện của công việc đó, là tống hợp tất cả các thành vi mà bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện cho bên sử dụng dịch vụ, nhằm đem lại kết quả như thỏa thuận. Công việc chi thực sự hoàn thành và đạt được kết quả như mong muốn khi được thực hiện đầy đủ các công đoạn, quy trình, tiêu chuẩn chung,…mà các bên đã thỏa thuận hoặc đã được công bố hoặc theo tiêu chuẩn chung của công việc đó.
-Ba là, yêu cầu thực hiện công việc theo đúng thời hạn. Thời hạn thực hiện công việc là khoảng thời gian từ có điểm bắt đầu và điểm kết thúc, mà công việc bắt buộc phải thực hiện trong khoảng thời gian đó. Thời gian thực hiện công việc có thể được xác định theo thỏa thuận của các bên, hoặc theo quy trình chung được công bố công khai đối với công việc thực hiện, hoặc theo tiêu chuẩn chung. Khi xác lập hợp đồng các bên thường thỏa thuận về thời hạn thực hiện công việc, hoặc bằng cách nhà cung cấp đưa ra thời gian thực hiện công việc cụ thể và bên sử dụng có thể chấp nhận hoặc không. Đối với mọi loại hợp đồng, thời gian thực hiện nghĩa vụ có ý nghĩa quan trọng. Khi các bên đã có thỏa thuận về thời hạn, tức bên sử dụng dịch vụ cần nhận được kết quả công việc trong thời hạn đó, nếu qua thời hạn thì công việc thực hiện không còn ý nghĩa vụ với họ nữa. Chính vì thể, mà bên cung ứng dịch vụ phải đảm bảo chắc chắn hoàn thành công việc trong thời hạn xác định để không xâm phạm đến lợi ích của bên sủ dụng dịch vụ.
-Bốn là, yêu cầu thực hiện công việc theo đúng địa điểm. Địa điểm thực hiện công việc là nơi theo thỏa thuận của các bên sẽ thực hiện công việc tại đó, hoặc sẽ chuyển giao kết quả công việc. Địa điểm thực hiện công việc được xác định theo thỏa thuận của các bên hoặc theo tập quán cung cấp dịch vụ hoặc theo tính chất công việc đó. Công việc phải thực hiện đúng đại điểm thì mới đem lại lợi ích cho bên sử dụng dịch vụ. Thông thường, địa điểm thực hiện công việc do các bên thỏa thuận trên cơ sở tính chất của từng loại công việc. Các địa điểm thực hiện công việc mà các bên có thể thỏa thuận lựa chọn là: nơi cư trú hoặc trụ sở của bên sử dụng dịch vụ, nơi cư trú hoặc trụ sở của bên cung ứng dịch vụ hay một địa điểm bất kỳ.
-Năm là, yêu cầu bên thực hiện công việc theo đúng các nội dung khác đã thỏa thuận trong hợp đồng. Ngoài các nội dung cơ bản trên, các chủ thể có thể thỏa thuận thêm các nội dung khác nếu cần thiết và phù hợp với công việc thực hiện. Theo đó, bên sử dụng dịch vụ có quyền yêu cầu bên cung ứng có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ, đúng những nội dung đó.
Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng là quyền của một bên trong hợp đồng được chấm dứt hợp đồng trước thời hạn mà không cần chịu trách nhiệm dân sự. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng là quyền mà pháp luật trao cho các bên trong hợp đồng có thể tự bảo vệ lợi ích của mình khi bên còn lại có hành vi vi phạm nghĩa vụ. Theo đó, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên sử dụng dich vụ được quy định như sau:
-Một là, điều kiện để bên sử dụng được đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Pháp luật quy định điều kiện để bên sử dụng dịch vụ được đơn phương chấm dứt hợp đồng là khi bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình. Hành vi vi phạm nghiêm trọng có thể hiểu là hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích của bên kia, dẫn đến họ không thể đạt được lợi ích từ hợp đồng. Hành vi này phải xuất phát từ ý chí chủ quan của bên cung ứng, họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình như đã thỏa thuân.
-Hai là, hậu quả pháp lý là hợp đồng dịch chấm dứt và bên cung ứng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Theo đó, hợp đồng chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm bên cung ứng nhận được thông báo chấm dứt, các bên không cần tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng nữa (trừ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại). Theo quy định chung của pháp luật về đơn phương châm dứt hợp đồng thì bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thông báo cho bên cung ứng biết về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng. Hợp đồng chấm dứt làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ tiếp theo của hợp đồng, còn phần nghĩa vụ trước đó mà bên cung ứng đã thực hiện vẫn phải chuyển giao cho bên sử dụng, đồng thời bên sử dụng cũng có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng phần nghĩa vụ đã hoàn thành. Tùy vào hình thức gửi thông báo mà xác định thời điểm bên cung ứng dịch vụ nhận được thông báo là khi nào. Bên cạnh đó, hợp đồng đơn phương chấm dứt còn làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên vi phạm nghĩa vụ, trong trường hợp này là bên cung ứng dịch vụ. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi hội tụ đủ các yếu tố: có hành vi vi phạm, có thiệt hại xảy ra, có mỗi quan hệ nhân quả của hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra và bên vi phạm có lỗi. Điều này đồng nghĩa với khi bên cung ứng cố ý thực hiện hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại xảy ra do hành vi đó của bên cung ứng thì mới có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Gía trị bồi thường thường thiệt hại được xác định theo thỏa thuận của các bên, dựa trên mức độ thiệt hại.
Quy định về quyền của bên sử dụng dịch vụ không chỉ tạo điều kiện cho họ tự bảo vệ lợi ích của mình, mà còn nâng cao ý thức, trách nhiệm của bên cung ứng trong quá trình thực hiện công việc phục vụ cho lợi ích của bên sử dụng.
Xem thêm: Tổng hợp các bài viết hỏi đáp Luật Dân sự
Luật Hoàng Anh
Luật sư NGUYỄN ĐÌNH HIỆP - Những con số biết nói
Với 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn pháp lý, Luật sư Nguyễn Đình Hiệp có sự am hiểu sâu sắc hệ thống pháp luật Việt Nam và triển khai thành công rất nhiều các vụ việc như:
2
Tư vấn mở chuỗi kinh doanh nhượng quyền thương mại
2
Tư vấn cấp Giấy phép viễn thông cho doanh nghiệp Việt Nam
8
Tư vấn pháp lý thường xuyên cho các doanh nghiệp Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc. Tiêu biểu như Công ty CP Tập đoàn Bình Minh, Công ty CP DV Viễn thông Hải Phòng
10
Tư vấn, xử lý thu hồi công nợ và khởi kiện/khởi tố các đối tượng có nợ khó đòi
10
Tư vấn pháp lý đầu tư, giấy phép, chuyển nhượng các dự án khoáng sản. Tiêu biểu như Dự án khai thác Khoáng sản của Công ty khoáng sản An Vượng tại huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình (50ha).
15
Tư vấn pháp lý dự án đầu tư mở rộng sản xuất. Tiêu biểu như Dự án sản xuất 50 triệu sản phẩm điện tử thanh toán Công ty TNHH ST Vina (Hàn Quốc); Dự án mở rộng quy mô sản xuất của Công ty TNHH RFTech Việt Nam lên 20 triệu đô la Mỹ;
20
Tư vấn hợp đồng chuyển giao công nghệ và thực hiện thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ (hầu hết là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)
20
Tư vấn pháp lý dự án đầu tư bất động sản. Tiêu biểu như Dự án khu nghỉ dưỡng tại Vịnh Lan Hạ, thành phố Hải Phòng (30ha); Khu du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng Avana Mai Chau Hideway, tỉnh Hòa Bình (32ha)
30
Tư vấn, thành lập các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong các lĩnh vực. Tiêu biểu như Dự án nhà máy sản xuất của Công ty Mass Well Limited, Công ty Modern Shine Limited tại Trung tâm công nghiệp GNP Yên Bình
300
Tư vấn hồ sơ công bố sản phẩm, hồ sơ phòng cháy chữa cháy, hồ sơ an toàn vệ sinh thực phẩm, đăng ký mã số mã vạch, đăng ký/thông báo website…
500
Tư vấn bảo hộ nhãn hiệu (thương hiệu), quyền tác giả, sáng chế
700
Tư vấn, thực hiện các thủ tục, giấy phép con như: Giấy phép lao động cho người nước ngoài, cấp phép tạm trú cho người nước ngoài, Giấy phép trung tâm ngoại ngữ, Giấy phép ngành dược, Giấy phép quảng cáo…
2000
Tư vấn, thành lập các doanh nghiệp mới, chi nhánh, văn phòng đại diện trên cả nước; các thủ tục thay đổi đăng ký doanh nghiệp trên cả nước
3000
Tư vấn các vụ việc ly hôn, chia tài sản, quyền nuôi con; chia thừa kế; tranh chấp đất đai; tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và tố tụng hành chính.
Để nhận tin tức và quà tặng từ Luật Hoàng Anh