Quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài?

1.Căn cứ pháp lý

Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài như sau:

Điều 679. Quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo pháp luật của nước nơi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được yêu cầu bảo hộ"

2.Nội dung

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền sở hữu đối với sản phẩm của hoạt động trí tuệ và tinh thần như tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại,…Quyền sở hữu trí tuệ gồm 05 đặc điểm sau:
-Một là, đặc tính vô hình của tài sản trí tuệ. Tài sản nhìn chung có thể thể chia làm 02 loại là tài sản vô hình và tài sản hữu hình. Theo đó, tài sản vô hình là tài sản mà con người không thể nhận biết sự tồn tại của nó bằng giác quan, nhưng có thể nhận biết được dưới dạng thông tin và nó có khả năng sinh lợi bằng tiền và bằng các tài sản khác. Trong đó quyền sở hữu trí tuệ là một trong những tài sản mang đặc tính của tài sản vô hình. Các chủ thể có thể nhận biết tài sản thông qua nhận thức, vì vậy mà tài sản sở hữu trí tuệ có thể được nhiều người sử dụng ở nhiều nơi khác nhau trong cùng một thời điểm.
-Hai là, tính xác định được. Vì quyền sở hữu trí tuệ có thể nhận biết thông qua nhận thực nên, các bên có thể xác định được bản chất, phạm vi và công dụng của tài sản trí tuệ. 
-Ba là, tính kiểm soát được. Các chủ thể bằng hành vi của mình tác động lên tài sản trí tuệ như: điều khiển, sản xuất, duy trì, phát triển, mua bán, trao đối, cho thuê,…và mang lại một kết quả nhất định
-Bốn là, khả năng sinh lợi. Tài sản trí tuệ có khả năng sinh lợi thông qua việc sử dụng, bán, chuyển giao, cho thuê, trao đổi,…lợi ích đó có thể là tiền mặt hay bằng một tài sản khác.
-Năm là, tính sáng tạo và đổi mới. Đây là đặc tính riêng để phân biệt tài sản trí tuệ với các dạng tài sản vô hình khác biệt, hoặc là một đối tượng đã biết nhưng được bổ sung cái mới (được đổi mới)[1]. 
Quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài rất đa dạng và phức tạp. Bởi lẽ, quyền sở hữu trí tuệ phát sinh trên cơ sở pháp luật của nước nào chỉ bảo hộ ở nước đó mà thôi, quyền sở hữu trí tuệ chỉ được giới hạn trong phạm vi hiệu lực của pháp luật bảo vệ nó. Căn cứ vào quy định trên quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo pháp luật của nước nơi đối tượng quyền sở hữu được yêu cầu bảo hộ. Từ đó, có thể thấy nếu đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được khai thác, sử dụng tại quốc gia mà ở đó pháp luật không bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đó, thì đối tượng không được bảo vệ. Ví dụ: một tác phẩm đăng ký bảo hộ tại Việt Nam sẽ chỉ được pháp luật Việt Nam bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, còn tại Mỹ thì tác phẩm đó lại không được bảo hộ. Điều này là bất công và vô lý đối với các chủ thể sáng tạo ra tài sản thuộc sở hữu trí tuệ. Do đó, để quyền sở hữu trí tuệ của các chủ thể được bảo hộ trong phạm vi quốc tế, các quốc gia có thể tham gia các điều ước quốc tế, để ngăn chặn hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ ở cả những quốc gia mà pháp luật không có hiệu lực bảo hộ. 
Ngoài ra theo quy định tại Điều 679 BLDS năm 2015 quy định chủ thể là chủ sở hữu của tài sản trí tuệ có thể đăng ký bảo hộ ở nhiều quốc gia khác nhau. Theo quy định này thì yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở đâu thì áp dụng pháp luật nước đó. Một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ có thể được bảo hộ ở nhiều quốc gia khác nhau, và cơ chế bảo hộ tùy thuộc vào quy định pháp luật của các quốc gia đó, nó thể giống hoặc khác nhau. Ví dụ: đối với nhãn hiệu Coca-Cola được đăng ký bảo hộ tại Mỹ, thì pháp luật của Mỹ sẽ bảo hộ trong phạm vi nước Mỹ. Sau này khi phát triển ra thị trường thế giới Coca-Cola đăng ký bảo hộ tại nhiều nước khác nhau trong đó có Việt Nam. Lúc này pháp luật Việt Nam cũng sẽ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu này trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Tương tự với các quốc gia mà khác mà Coca-Cola đăng ký bảo hộ cũng vậy. Tuy nhiên nếu Coca-Cola không đăng ký bảo hộ tại Việt Nam thì sẽ không được pháp luật Việt Nam bảo hộ, trừ trường hợp đây được xem là nhãn hiệu nổi tiếng (theo quy định tại Luật sở hữu trí tuệ năm 2019) thì sẽ đương nhiên được bảo hộ mà không cần đăng ký. 

 Xem thêm: Tổng hợp các bài viết hỏi đáp Luật Dân sự

Luật Hoàng Anh

[1] PGS.TS.Nguyễn Văn Cừ - PGS.TS.Trần Thị Huệ,(2017), “Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”,Nxb.Công an nhân dân

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài?

Hỏi đáp luật Dân Sự 18/06/2021

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch.

Phân loại tài sản trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài?

Hỏi đáp luật Dân Sự 20/06/2021

Việc phân loại tài sản là động sản, bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản

Xác định cá nhân mất tích hoặc chết trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài?

Hỏi đáp luật Dân Sự 20/06/2021

Việc xác định một cá nhân mất tích hoặc chết tuân theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch vào thời điểm trước khi có tin tức cuối cùng về người đó

Pháp nhân trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài?

Hỏi đáp luật Dân Sự 20/06/2021

Quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập.