Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản có yếu tố nước ngoài?

Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản có yếu tố nước ngoài như sau:

Điều 678. Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản
1. Việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản là động sản trên đường vận chuyển được xác định theo pháp luật của nước nơi động sản được chuyển đến, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”

Quyền sở hữu là quyền của chủ chủ sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, định đoạt, sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Quyền khác đối với tài sản là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác. Căn cứ vào khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quan hệ về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản được xem là có yếu tố nước ngoài khi thỏa mãn một trong ba điều kiện sau: 
-Chủ thể tham gia quan hệ có ít nhất một bên là chủ thể nước ngoài
-Khách thể của quan hệ là tài sản tồn tại ở nước ngoài
-Việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài.

1.Pháp luật áp dụng đối với quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

Do quy định trong hệ thống pháp luật mỗi nước là khác nhau, vậy nên không tránh khỏi xung đột pháp luật trong quy định về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản. Lúc này vấn đề xung đột pháp luật được giải quyết như sau: việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quan hệ về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản được thực hiện theo quy định pháp luật của nước có tài sản. Tài sản bao gồm động sản và bất động sản. Theo đó, tài sản tồn tại ở đâu thì pháp luật quốc gia đó được áp dụng để giải quyết vụ việc. Theo khoản 1 Điều 678 BLDS năm 2015 thì pháp luật Việt Nam áp dụng chung cùng một hệ thuộc luật là luật của nước nơi có tài sản (Lex rei sitae) đối với cả tài sản là động sản và bất động sản trong các quan hệ liên quan đến việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản[1].  Ví dụ: công ty Việt Nam ký kết hợp đồng với một công ty nước ngoài về việc mua bán một công trình xây dựng tại Việt Nam. Lúc này pháp luật Việt Nam được áp dụng để điều chỉnh quan hệ trên vơi tư cách là nước có tài sản. Mọi vấn đề liên quan đến quan hệ này như: các bên có quyền mua bán công trình hay không, nghĩa vụ của các bên, trình tự thủ tục,…đều phải thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2.Pháp luật áp dụng trong trường hợp tài sản là động sản đang trên đường vận chuyển

Riêng trong trường hợp tài sản là động sản đang trên đường vận chuyển thì được xác định theo pháp luật của nước nơi có động sẩn được chuyển đến. Khác với quy định tại khoản 1, tại quy định này việc xác định pháp luật áp dụng không dựa vào hệ thuộc luật nơi có tài sản, mà dựa vào hệ thuộc luật nơi là tài sản sẽ được chuyển đến hoặc theo theo thỏa thuận của các bên. 
Quan hệ sở hữu là quan hệ giữa các chủ thể là cá nhân, pháp nhân đối với tài sản. Các chủ thể này bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, nên việc thỏa thuận, thương lượng luôn được ưu tiên tôn trọng. Không chỉ trong quan hệ sở hữu mà trong bất kỳ một quan hệ dân sự nào quyền của các chủ thể về thỏa thuận, thương lượng với nhau cũng được pháp luật tôn trọng và ưu tiên áp dụng. Do đó, trong quan hệ về quyền sử hữu và quyền khác đối với tài sản các bên không chỉ có quyền thỏa thuận với nhau về quyền, nghĩa vụ của các bên mà còn có quyền thỏa thuận về việc chọn luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ. 
Trong trường hợp các bên không thỏa thuận chọn luật áp dụng, thì pháp luật của nước nơi mà tài sản được chuyển đến sẽ được lựa chọn áp dụng. Sở dĩ quy định áp dụng pháp luật của nước nơi tài sản được chuyển đến mà không phải phải nơi tài sản được chuyển đi vì, tài sản chỉ tồn tại nhất thời ở nước nơi tài sản được chuyển đi như vậy thì cơ quan có thẩm quyền sẽ rất khó khăn trong việc xác định vị trí tồn tại của tài sản. Kể cả trong trường hợp có thể xác định được địa điểm tồn tại của tài sản thì rõ ràng hệ thuộc luật nơi có tài sản cũng sẽ tạo sự thiếu ổn định cho việc điều chỉnh quan hệ, vì ngay cả các bên tham gia quan hệ cũng như cơ quan có thẩm quyền có thể sẽ rất bị động, xa lạ và không mong muốn với vị trí đó, với pháp luật nước đó[2]. Pháp luật của nước có tài sản được chuyển đến là nơi mà tài sản sẽ tồn tại lâu dài do đó, luật của nước nơi tài sản được chuyển đến được áp dụng để điều chỉnh quan hệ. 

 Xem thêm: Tổng hợp các bài viết hỏi đáp Luật Dân sự

Luật Hoàng Anh

[1], [2]PGS.TS.Nguyễn Văn Cừ - PGS.TS.Trần Thị Huệ,(2017), “Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”,Nxb.Công an nhân dân

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Phân loại tài sản trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài?

Hỏi đáp luật Dân Sự 20/06/2021

Việc phân loại tài sản là động sản, bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản

Xác định cá nhân mất tích hoặc chết trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài?

Hỏi đáp luật Dân Sự 20/06/2021

Việc xác định một cá nhân mất tích hoặc chết tuân theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch vào thời điểm trước khi có tin tức cuối cùng về người đó

Pháp nhân trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài?

Hỏi đáp luật Dân Sự 20/06/2021

Quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập.

Quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài?

Hỏi đáp luật Dân Sự 21/06/2021

Quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo pháp luật của nước nơi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được yêu cầu bảo hộ