Quyền từ chối của bên có nghĩa vụ?

Mặc dù pháp luật quy định khi chuyển giao quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ không cần có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ. Tuy nhiên, bên có nghĩa vụ vẫn có quyền từ chối trong trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật. Cụ thể, Điều 369 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền từ chối của bên có nghĩa vụ là:

Điều 369. Quyền từ chối của bên có nghĩa vụ
1. Trường hợp bên có nghĩa vụ không được thông báo về việc chuyển giao quyền yêu cầu và người thế quyền không chứng minh về tính xác thực của việc chuyển giao quyền yêu cầu thì bên có nghĩa vụ có quyền từ chối việc thực hiện nghĩa vụ đối với người thế quyền.
2. Trường hợp bên có nghĩa vụ do không được thông báo về việc chuyển giao quyền yêu cầu mà đã thực hiện nghĩa vụ đối với người chuyển giao quyền yêu cầu thì người thế quyền không được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình”

1.Khái niệm

-Trong quan hệ nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ là bên phải chủ động thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền, tuy nhiên, để đảm bảo bên có nghĩa vụ chủ động thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ, pháp luật đã trao cho bên có quyền quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ. Quyền yêu cầu là sự đôn đốc, nhắc nhở thực hiện nghĩa vụ, tránh việc chây ỳ, trốn tránh nghĩa vụ. Chuyển giao quyền yêu cầu là sự thỏa thuận của các bên mà theo đó bên có quyền yêu cầu sẽ chuyển giao quyền yêu cầu cho người thứ ba. Thực chất chuyển giao quyền yêu cầu là một hợp đồng, bởi sự chuyển giao dựa trên thỏa thuận và thống nhất ý chí của bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao. Khác với thực hiện quyền yêu cầu thông qua người thứ ba (ủy quyền), khi quyền yêu cầu được chuyển giao, quan hệ giữa bên chuyển giao và bên có nghĩa vụ sẽ chấm dứt làm phát sinh quan hệ mới là quan hệ giữa bên nhận chuyển giao và bên có nghĩa vụ.
-Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, trong mọi trường hợp bên có nghĩa vụ luôn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với bên có quyền. Do đó, quyền từ chối của bên có nghĩa vụ không thể là quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền. Mà căn cứ vào quy định trên thì quyền từ chối của bên có nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ từ chối việc thực hiện nghĩa vụ với bên thế quyền.

2.Điều kiện thực hiện quyền từ chối

Pháp luật quy định chuyển giao quyền yêu cầu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong thực hiện quyền dân sự. Tuy nhiên, theo nguyên tắc chung khi tham gia vào giao dịch dân sự, việc thực hiện quyền dân sự không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Nếu việc chuyển quyền yêu cầu mà làm ảnh hưởng đến lợi ích của bên có quyền thì bị xem là vi phạm pháp luật và không được công nhận. Chính vì vậy, pháp luật đã trao cho bên có nghĩa vụ có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ với người thứ ba khi thỏa mãn hai điều kiện sau:
-Thứ nhất: Bên có quyền không thông báo việc chuyển giao quyền yêu cầu. Khoản 2 Điều 365 BLDS năm 2015 quy định về nghĩa vụ của bên có quyền khi chuyển giao quyền yêu cầu cho bên thứ ba như sau: “Người chuyển giao quyền yêu cầu phải thông báo bằng văn bản cho bên có nghĩa vụ biết về việc chuyển giao quyền yêu cầu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Quy định này nghĩa vụ bắt buộc đối với bên chuyển giao, do đó, nếu họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bị xem là hành vi vi phạm nghĩa vụ. Việc thông báo có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Điều đó giúp bên có nghĩa vụ xác định đúng chủ thể mà mình cần thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, nếu không báo thì bên có nghĩa vụ hoàn toàn có quyền từ chối việc thực hiện nghĩa vụ với bên thế quyền.
-Thứ hai: Bên thế quyền không chứng minh tính xác thực của việc chuyển giao quyền yêu cầu. Pháp luật đã quy định bên có chuyển giao có nghĩa vụ chuyển giao cho bên thế quyền những giấy tờ liên quan, theo quy định tại khoản 1 Điều 366 BLDS năm 2015. Giấy tờ tờ là cơ sở để chứng minh bên nhận chuyển giao hiện tại là bên có quyền đối với việc tiếp nhận, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ. Chính vì vậy, bên chuyển giao phải chuyển giao cho bên nhận chuyển giao cả giấy tờ có liên quan. Giấy tờ đó có thể là hợp đồng chính, hợp đồng phụ, chứng minh thư, hộ khẩu, giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu đối với tài sản,…Vì vậy, bên thế quyền có nghĩa vụ phải xác minh việc mình là bên có quyền đối với nghĩa vụ phải thực hiện bằng cách đưa ra những giấy tờ có liên quan. Quy định này nhằm thể hiện tính chặt chẽ trong giao dịch đồng thời đảm bảo tính pháp lý. Tránh việc có người lợi dụng quy định chuyển giao quyền yêu cầu để lừa bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ với mình. Vì những lẽ đó mà bên có nghĩa vụ có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ với bên thế quyền, nếu họ không xác thực được việc quyền yêu cầu đã được chuyển giao cho họ.

3.Hệ quả khi không thông báo

-Khi bên có quyền đã chuyển quyền yêu cầu mà không báo cho bên có nghĩa vụ biết về việc đã chuyển quyền, thì bên có nghĩa vụ có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ với bên thế quyền. Bên cạnh đó, trường hợp bên có nghĩa vụ do không biết việc chuyển giao quyền yêu cầu mà vẫn thực hiện nghĩa vụ với bên chuyển giao, thì bên thế quyền không có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ với mình. Đây hoàn toàn là lỗi của bên có quyền, khi không thông báo cho bên có nghĩa vụ biết mặc dù đó là nghĩa vụ bắt buộc mà pháp luật quy định. Lúc này, nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ với bên thế quyền được chuyển sang cho bên chuyển giao.
-Bên cạnh đó, nếu việc không thông báo mà làm phát sinh chi phí cho bên có nghĩa vụ, thì bên chuyển giao phải chịu trách nhiệm thanh toán chi phí này, theo quy định tại khoản 2 Điều 365 BLDS năm 2015: “Trường hợp bên chuyển giao quyền yêu cầu không thông báo về việc chuyển giao quyền mà phát sinh chi phí cho bên có nghĩa vụ thì bên chuyển giao quyền yêu cầu phải thanh toán chi phí này”. Tuy nhiên, đây là hệ quả khi bên chuyển giao không báo cho bên có nghĩa vụ biết về việc chuyển giao, nhưng bên có nghĩa vụ không thực hiện quyền từ chối mà vẫn thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba. Khi bên có nghĩa vụ không biết mà vẫn thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền, sau đó mới biết về việc quyền yêu cầu đã được chuyển giao nhưng không từ chối mà vẫn vẫn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ với bên thế quyền, lúc này nếu phát sinh thêm chi phí thì bên chuyển giao phải chịu trách nhiệm thanh toán chi phí đó cho bên có nghĩa vụ. Thông thường, trong trường hợp này nếu bên có nghĩa vụ từ chối thì bên chuyển giao phải thực hiện nghĩa vụ với bên thế quyền, nhưng bên có nghĩa vụ đã thực hiện thay vì vậy trách nhiệm thanh toán chi phí thuộc về bên chuyển giao.
Quy định về quyền từ chối nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của bên có nghĩa vụ, tránh việc phải thực hiện nghĩa vụ nhiều lần. Đồng thời nâng cao tính chủ động, trách nhiệm của bên chuyển quyền trong việc thực hiện nghĩa vụ thông báo theo quy định pháp luật.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết hỏi đáp Luật Dân sự

Luật Hoàng Anh.

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật?

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/07/2021

Khi bên mang nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ giao vật, mang lại những thiệt hại không nhỏ cho bên có quyền

Trách nhiệm do không thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/07/2021

Đối tượng của quan hệ nghĩa vụ ngoài tài sản có thể là công việc phải thực hiện hoặc không phải thực hiện

Trách nhiệm do chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 23/07/2021

Bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ làm phát sinh thiệt hại cho bên có nghĩa vụ thì phải bồi thường thiệt hại

Thế nào là cưỡng chế đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 25/07/2021

Khi người phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền nhưng không tự nguyện thi hành án mà họ đang có tài sản là quyền sở hữu trí tuệ thì Chấp hành viên có thể kê biên quyền sở hữu trí tuệ đó để đảm bảo thi hành án

Nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 24/07/2021

Bên có quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình

Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 24/07/2021

Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần

Lỗi trong trách nhiệm dân sự là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 24/07/2021

Lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý.

Bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi?

Hỏi đáp luật Dân Sự 24/07/2021

Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình