Tài sản thế chấp là gì?

Thế chấp là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia, và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp. So với biện pháp bảo đảm cầm cố, phạm vi tài sản thế chấp rộng hơn rất nhiều. Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về tài sản cầm cố như sau:

Điều 318. Tài sản thế chấp
1. Trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ gắn với tài sản đó thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp tài sản thế chấp được bảo hiểm thì bên nhận thế chấp phải thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp. Tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm trực tiếp cho bên nhận thế chấp khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Trường hợp bên nhận thế chấp không thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp thì tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm và bên thế chấp có nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận thế chấp”
.

Tài sản thế chấp thường là động sản, bất động sản nhưng không chuyển giao cho bên nhận  thế chấp giữ. Mà bên thế chấp sẽ chuyển giao cho bên nhận thế chấp giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu cho bên nhận thế chấp nếu có thỏa thuận. Vì vậy, mà phạm vi tài sản thế chấp rất rộng: có thể là vật, giấy tờ có giá, tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai, tài sản cho thuê, cho mượn,…Căn cứ vào quy định trên, có thể thấy 04 trường hợp thế chấp tài sản như sau:

1.Thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản

Tài sản là động sản hoặc bất động sản bao gồm vật chính và vật phụ. Vật chính là vật độc lập có thể khai thác công dụng theo tính năng; vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính, nhưng có thể tách rời vật chính. Có thể hiểu vật chính, vật phụ là những bộ phận cấu thành tài sản. Ví dụ: Sạc điện thoại là vật phụ của điện thoại, điều khiển là vật phụ của tivi, cửa là vật phụ của nhà,…Khoản 3 Điều 110 BLDS năm 2015 quy định: “Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính thì phải chuyển giao cả vật phụ trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Nối tiếp quy định đó, pháp luật khẳng định trong thế chấp tài sản, khi các bên có thỏa thuận thế chấp toàn bộ động sản và bất động sản thì vật phụ của động sản, bất động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp. Đó là nguyên tắc chung trong việc thế chấp toàn bộ tài sản, các bên có thể thỏa thuận về việc thế chấp toàn bộ tài sản mà không thế chấp vật phụ, nếu không thì phải tuân thủ theo nguyên tắc này. 

2.Thế chấp một phần bất động sản, động sản

Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà các bên có thể thỏa thuận thế chấp một phần tài sản. Khi thế chấp một phần tài sản thì cả những vật phụ gắn liền với phần thế chấp cũng được xem là tài sản thế chấp. Cũng như quy định ở trên, vật phụ là vật gắn liền với vật chính nhằm khai thác công dụng của vật chính, mặc dù có thể tách rời nhưng nó vẫn là một bộ phận của vật chính, nhờ có nó mà có thể khai thác công dụng của vật chính một cách đầy đủ. Sau này, nếu bên thế chấp không thực hiện nghĩa vụ đầy đủ khi đến hạn, thì bên nhận thế chấp có thể thanh lý tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ chưa được thực hiện. Do đó, tài sản thế chấp phải đầy đủ, thì mới có thể dễ dàng trong việc thanh lý tài sản đảm bảo. Ví dụ: chủ dự án thế chấp ¼ căn hộ của tòa nhà chung cư, thì những vật trang thiết bị gắn liền với ¼ căn hộ đó đều là tài sản thế chấp,…

3.Thế chấp quyền sử dụng đất

Thông thường, tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người có quyền sử dụng đất. Ví dụ: nhà cửa, công trình xây dựng gắn liền với đất,…Trường hợp này, nếu thế chấp quyền sử dụng đất thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc đối tượng thế chấp tài sản. Quy định này xuất phát từ quan điểm vật chính gắn liền với vật phụ, bởi trên thực tế nhà cửa, công trình xây dựng không thể tách rời khỏi đất. Đồng thời quy định này còn tạo cơ chế để khuyến khích người sử dụng đất đưa tài sản gắn liền với đất vào lưu thông qua việc thế chấp để khai thác tối đa giá trị kinh tế của tài sản, đáp ứng nhu cầu nguồn vốn để phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh[1]
Tuy nhiên, pháp luật quy định về quyền bề mặt, là quyền của chủ thể đối với mặt đất, mặt đất mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sở hữu đất đó thuộc về chủ thể khác. Như vậy, trong trường hợp này bên thế chấp có thể thế chấp quyền sử dụng đất, nhưng tài sản gắn liền với đất lại không thuộc sở hữu của họ, do đó, tài sản đó không thuộc đối tượng của hợp đồng thế chấp. 

4.Tài sản thế chấp được bảo hiểm

Tài sản thế chấp đang được bảo hiểm thì số tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế chấp. Bởi tài sản thế chấp vẫn do bên thế chấp giữ, do đó, bên thế chấp phải gánh chịu rủi ro nếu tài sản bị hư hỏng, mất giá trị. Trên thực tế, có thể xảy ra trường hợp tài sản đang được thế chấp, tuy nhiên trong quá trình sử dụng tài sản đã bị thiệt hại, không còn giá trị như ban đầu. Lúc này sẽ rất rủi ro cho bên nhận thế chấp khi tài sản thế chấp không còn hoặc còn nhưng giá trị đã giảm sút rất nhiều. Do đó, nếu tài sản thế chấp đang được bảo hiểm mà xảy ra sự kiện được bảo hiểm, thì công ty bảo hiểm sẽ phải chi trả tiền bảo hiểm cho bên nhận bảo hiểm, số tiền này coi như là tài sản đảm bảo thay cho tài sản đảm bảo đã hư hỏng. Tuy nhiên, quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên nhận thế chấp, vậy nên bên nhận thế chấp phải chủ động trong việc thông báo cho công ty bảo hiểm biết về tình trạng tài sản được bảo hiểm đang được thế chấp. Nếu bên nhận thế chấp không thông báo, thì công ty bảo hiểm không có trách nhiệm phải biết và chi trả chi phí bảo hiểm cho bên nhận thế chấp. Theo đó, công ty bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm thông thường. Lúc này, trách nhiệm thanh toán tiền bảo hiểm cho bên nhận thế chấp sẽ chuyển sang cho bên thế chấp. Mặc dù vậy nhưng sẽ rất rủi ro cho bên nhận thế chấp nếu bên thế chấp lừa dối rằng sự kiện bảo hiểm không hề xảy ra để trốn tránh việc chi trả tiền bảo hiểm. Thế nên, để đảm bảo quyền của mình cũng như hạn chế rủi ro, bên nhận thế chấp nên tìm hiểu kỹ và thông báo cho công ty bảo hiểm (nếu có).

 Xem thêm: Tổng hợp các bài viết hỏi đáp Luật Dân sự

Luật Hoàng Anh

[1]PGS.TS.Nguyễn Văn Cừ - PGS.TS.Trần Thị Huệ,(2017), “Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”,Nxb.Công an nhân dân.

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Quy định của pháp luật về trả lại tài sản cầm cố?

Hỏi đáp luật Dân Sự 09/07/2021

Trả lại tài sản cầm cố là nghĩa vụ của bên nhận bảo đảm có trách nhiệm trả lại tài sản cầm cố cho bên cầm cố.

Quyền của bên nhận cầm cố là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 09/07/2021

Quyền của bên nhận cầm cố là những hành vi mà bên nhận cầm cố được phép thực hiện để bảo vệ lợi ích của chính mình trong quan hệ cầm cố tài sản

Quyền của bên cầm cố là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 09/07/2021

Quyền của bên cầm cố là những gì mà bên cầm cố được phép thực hiện để bảo vệ lợi ích của mình

Thế chấp tài sản là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 12/07/2021

Thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia