Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng là gì?

Trong quan hệ hợp đồng, khi hành vi vi phạm của một bên mà gây ra thiệt hại cho bên kia thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào trách nhiệm bồi thường cũng được đặt ra khi một bên vi phạm hợp đồng. Trong một số trường hợp nhất định, bên vi phạm mặc dù vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nhưng lại không phải bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm. Cụ thể, Điều 419 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng như sau:

Điều 419. Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng
1. Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật này.
2. Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.
3. Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc”

1.Khái niệm

-Bồi thường thiệt hại có thể hiểu là một hình thức của trách nhiệm dân sự, nhằm buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả tổn thất về vật chất, tinh thần cho bên bị thiệt hại. Trong hợp đồng, bồi thường thiệt hại thường được thể hiện dưới dạng vật chất. Những tổn thất mà bên bị thiệt hại phải chịu trong hợp đồng là tổn thất về vật chất thực tế, được tính bằng tiền do bên vi phạm nghĩa vụ gây ra, bao gồm những tổn thất về tài sản, chi phí cho việc ngăn chặn, hạn chế thiệt hại xảy ra. Hoặc cũng có trường hợp thiệt hại tinh thần xảy ra, nhưng bên bị vi phạm phải có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại đó. 

2.Nội dung

-Khi xác lập hợp đồng, các bên thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ, theo đó một bên khi vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường tương đương với thiệt hại xảy ra. Căn cứ vào quy định trên, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau:

Một là, có hành vi xâm phạm đến quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân khác. Quyền của các chủ thể được thỏa thuận trong hợp đồng, xâm phạm đến quyền lợi của chủ thể là hành vi vi phạm pháp luật, không chỉ trong quan hệ hợp đồng mà trong bất kỳ trường hợp nào bên vi phạm cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm. Theo đó, bên vi phạm có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bên bị vi phạm, Điều 13 BLDS năm 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.
Hai là, có hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng. Trong hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên đối lập tương ứng với nhau, quyền của bên này tương đương với nghĩa vụ của bên kia. Vì vậy, nội dung hợp đồng luôn có điều khoản quy định nghĩa vụ của các bên, nếu bên nào vi phạm nghĩa vụ này đồng nghĩa với việc xâm hại đến lợi ích của bên kia nên sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ. Điều 360 BLDS năm 2015 quy định: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.
Ba là, theo yêu cầu của bên có quyền. Khi một bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, nghĩa là hợp đồng không được thực hiện, khi hợp đồng không được thực hiện thì không thể đem lại lợi ích cho các bên. Như vậy, lợi ích mà bên có quyền đáng lẽ được hưởng bởi vì hành vi phạm nghĩa vụ của bên vi phạm mà không còn. Chính vì vậy, để bảo vệ lợi ích cho bên có quyền, pháp luật cho phép bên có quyền được yêu cầu bên vi phạm bồi thường cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Ngoài, lợi ích do hợp đồng mang lại, bên có quyền còn có thể yêu cầu bên vi phạm phải thanh toán các chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng. Ví dụ: A và B có ký kết hợp đồng mua bán tài sản, A là bên bán và B là bên mua. B mua tài sản từ A để bán lại C, phần giá trị chênh lệch chính là khoản lợi ích từ hợp đồng mua bán tài sản với A đem lại. Tuy nhiên, khi đến thời hạn đã thỏa thuận mà A vẫn chưa giao hàng cho B, việc giao hàng chậm hơn thời hạn thỏa thuận đã khiến cho B không có hàng để giao cho C dẫn đến việc C đã hủy hợp đồng với B. Như vậy, trong trường hợp này A là bên vi phạm nghĩa vụ, phần giá trị chênh lệch là lợi ích mà đáng lẽ B được hưởng nên B có quyền yêu cầu A bồi thường cho B một khoản tiền tương ứng. Nên canh đó, để đảm bảo việc nhận hàng B đã phải thuê xe chạy đến địa điểm hại bên đã thỏa thuận để nhận hàng, nhưng việc A chậm thực hiện nghĩa vụ đã khiến cho thời gian thuê xe kéo dài từ đó dẫn đến chi phí thuê xe tăng. Trường hợp này, ngoài bồi thường thiệt hại, A còn phải thanh toán cho B khoản chi phí phát sinh thêm. 

-Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định pháp luật quy định loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên vi phạm, cụ thể:

Một là, do các bên thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bồi thường thiệt hại là quy định của pháp luật để bảo vệ lợi ích của bên bị vi phạm, không phải là quy định bắt buộc, theo đó, các bên có thỏa thuận khác. Nếu các bên đã thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại, thì pháp luật vẫn tôn trọng.
Hai là, thiệt hại xảy ra do lỗi của bên kia. Điều kiện có bản để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là lỗi. Nếu bên vi phạm không có lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì không phải chịu trách nhiệm. Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích của bên gây thiệt hại, trong trường hợp bên bị thiệt hại cố ý gây tác động làm cho thiệt hại xảy ra để trục lợi.
Ba là, xảy ra sự kiện bất khả kháng. Sự kiện bất khả kháng là những sự kiện tự nhiên mà các bên không thể lường trước được. Nếu sự kiện đó xảy ra khiến cho một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình, trường hợp này nằm ngoài ý chí của bên vi phạm, họ không mong muốn thiệt hại xảy ra, nên để khách quan, công bằng pháp luật miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này. 

-Như đã trình bày ở trên, thiệt hại xảy ra có thể là thiệt hại vật chất hoặc tinh thần. Thiệt hại vật chất có thể xác định dựa trên thiệt hại xảy ra trên thực tế, nhưng thiệt hại về tinh thần thì bên bị thiệt hại phải có trách nhiệm chứng minh. Nếu họ có căn cứ chứng minh mình có thiệt hại về tinh thần do bên vi phạm gây ra, thì có thể yêu cầu Tòa án buộc bên có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Trường hợp này có sự can thiệp của Tòa án là cơ quan quyền lực Nhà nước, nên mức bồi thường thiệt hại do Tòa án quyết định thông qua nội dung vụ việc. 

 Xem thêm: Tổng hợp các bài viết hỏi đáp Luật Dân sự

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Cầm giữa tài sản trong hợp đồng song vụ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 10/08/2021

Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thì bên có quyền xác lập quyền cầm giữ tài sản

Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba có thể sửa đổi hoặc hủy bỏ không?

Hỏi đáp luật Dân Sự 11/08/2021

Khi người thứ ba đã đồng ý hưởng lợi ích thì dù hợp đồng chưa được thực hiện, các bên giao kết hợp đồng cũng không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng

Thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba?

Hỏi đáp luật Dân Sự 11/08/2021

Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích.

Quyền từ chối của bên thứ ba?

Hỏi đáp luật Dân Sự 11/08/2021

Quyền từ chối của bên thứ ba được hiểu là quyền từ chối lợi ích của mình phát sinh từ hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba.

Nghĩa vụ không thực hiện được do lỗi của một bên?

Hỏi đáp luật Dân Sự 11/08/2021

Khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia thì có quyền yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc hủy bỏ hợp đồng

Không thực hiện được nghĩa vụ nhưng không do lỗi của các bên?

Hỏi đáp luật Dân Sự 11/08/2021

Một bên không thực hiện được nghĩa vụ mà các bên không có lỗi thì không có quyền yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình.

Thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 12/08/2021

Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm

Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 12/08/2021

rong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý