Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là gì?

Mục đích giao kết hợp đồng có thể đạt được hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Trong mọi trường hợp không phải chỉ cần các bên tuân thủ theo nội dung của hợp đồng và quy định pháp luật thì hợp đồng đạt được mục đích, mà quá trình thực hiện hợp đồng còn bị chi phối bởi điều kiện, hoàn cảnh khách quan bên ngoài. Khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng thì sẽ gây nên thiệt hại nghiêm trọng cho một bên thì theo yêu cầu của họ, hợp đồng có thể chấm dứt hoặc sửa đổi để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Cụ thể, Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản như sau:

Điều 420. Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
1. Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;
b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;
c) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;
d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;
đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.
2. Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý.
3. Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án:
a) Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định;
b) Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi.
4. Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

1.Điều kiện

-Để đảm bảo tính pháp lý, tránh việc các chủ thể lạm dụng hoàn cảnh khách quan để trục lợi cho mình mà gây bất lợi cho bên còn lại, pháp luật đã quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi đáp ứng đủ 05 điều kiện sau:

Một là, sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng. Sự thay đổi xảy ra phải do yếu tố khách quan như: thiên tai, bão lũ, đình công,…mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các chủ thể trong hợp đồng. Bên canh đó, sự thay đổi đó phải diễn ra sau khi các bên giao kết hợp đồng, tức đang trong giai đoạn thực hiện hợp đồng, vì nếu diễn ra trước hoặc tại thời điểm giao kết hợp đồng, thì các bên phải nhận thức được điều đó để thỏa thuận nội dung hợp đồng cho phù hợp, hoặc không xác lập hợp đồng để bảo vệ lợi ích cho nhau.
Hai là, tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh. Quy định này rất quan trọng, bởi sự kiện khách quan xảy ra cũng có thể dự báo trước, như dự báo về việc sẽ xảy ra bão lũ, sạt lở đất,…Vậy nên để đảm bảo tính khách quan, và chắc chắn rằng không có sự can thiệp ý chí của các bên vào sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh, thì sự thay đổi đó phải đảm bảo các bên không thể lường trước được sẽ xảy ra. Nếu tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên đã lường trước được sự thay đổi đó sẽ xảy ra trong tương lai mà vẫn thỏa thuận giao kết những nội dung như lúc không có sự thay đổi về hoàn cảnh, thì các bên không được hưởng những lợi ích chính đáng như chấm dứt hoặc thay đổi nội dung của hợp đồng. Vì quy định là nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của các bên trong trường hợp xảy ra sự kiện bất ngờ có khả năng gây thiệt hại cho các bên. 
Ba là, hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác. Quy định này hướng đến xác định mức độ ảnh hưởng của sự thay đổi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng đối với các bên trong hợp đồng. Theo đó, hoàn cảnh thay đổi phải có sự tác động mạnh mẽ đến mức làm cho những nội dung bên đã thỏa thuận trong hợp đồng không thể thực hiện được, hoặc nếu thay đổi thì nội dung hoàn toàn khác với nội dung cũ. Quy định chặt chẽ về mức độ thay đổi hoàn cảnh tránh việc các bên lợi dụng để chấm dứt, thay đổi nội dung của hợp đồng. 
Bốn là, việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên. Quy định dựa trên cơ sở mức độ ảnh hưởng của hợp đồng, nếu các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng thì sẽ dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng cho một bên. Bởi khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản các bên quyền thay đổi nội dung hợp đồng, hoặc chấm dứt hợp đồng. Điều đó có nghĩa pháp luật đã lường trước được nếu các bên tiếp tục duy trì hợp đồng mà không thay đổi nội dung, thì không những không đạt được lợi ích gì từ hợp đồng mà còn thiệt hại nặng nề.
Năm là, bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích. Bên có lợi ích bị thiệt hại phải chủ động ngăn chặn thiệt hại xảy ra, đây là nghĩa vụ của họ khi bị ảnh hưởng bởi sự tác động của thay đổi hoàn cảnh. Quy định này cũng một phần chứng minh mức độ ảnh hưởng của sự thay đổi đó. Bên bị thiệt hại là bên có quyền yêu cầu chấm dứt, thay đổi hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi cơ bản, nên họ cũng có nghĩa vụ chứng minh sức ảnh hưởng sự thay đổi đó. Vậy nên, việc áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn thiệt hại không chỉ là nghĩa vụ của bên bị thiệt hại, mà còn là căn cứ để chứng minh sự kiện xảy ra có phải là hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay không.

2.Quyền của bên bị thiệt hại

-Khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản thì bên có lợi ích liên quan bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đảm phán lại hợp đồng, nhằm thay đổi nội dung hợp đồng đã được ký kết để bảo vệ lợi ích của mình. Để đảm bảo tính pháp lý, quyền yêu cầu chỉ được thực hiện trong một quãng thời gian hợp lý. Pháp luật không quy định cụ thể thời gian thực hiện quyền yêu cầu thay đổi nội dung hợp đồng, vậy nên có hiểu đó là khoảng thời gian tùy vào từng hợp đồng nhất định đủ để khắc phục những thiệt hại đã xảy ra. Sau thời hạn này, nếu bên có lợi ích liên quan không yêu cầu bên kia thay đổi nội dung hợp đồng thì xem như họ không có nhu cầu thay đổi, và quyền yêu cầu chấm dứt hiệu lực.
-Trường hợp các bên không thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng trong một thời gian hợp lý, thì để bảo vệ lợi ích cho các bên, pháp luật cho phép các bên được yêu cầu cơ quan quyền lực Nhà nước là Tòa án xác định: chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định, hoặc sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xác định chấm dứt hay sửa đổi nội dung của hợp đồng, nếu xét thấy việc chấm dứt hợp đồng mà gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi thì quyết định áp dụng sửa đổi hợp đồng và ngược lại. 
-Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. Tránh việc hợp đồng bị đình trệ do chờ đợi Tòa án giải quyết vụ việc gây thiệt hại lớn hơn, nên trong thời gian chờ các bên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, lúc này Tòa án vẫn chưa quyết định sẽ chấm dứt hay sửa đổi nội dung hợp đồng, việc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ mà sau này Tòa án quyết định chấm dứt hợp đồng thì sẽ làm mất thời gian, công sức, tiền bạc của các bên; còn nếu sau này Tòa án quyết định sửa đổi nội dung hợp đồng thì nội dung cũ không có hiệu lực pháp luật, thì phần nghĩa vụ đã thực hiện cũng bị xem như không có giá trị pháp lý. Chính vì vậy, luật đã cho phép các bên được thỏa thuận, theo đó tùy vào tình hình cụ thể mà các  bên có thể tự do quyết định có tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trong thời gian chờ hay không.

 Xem thêm: Tổng hợp các bài viết hỏi đáp Luật Dân sự

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 10/08/2021

Hoãn thực hiện nghĩa vụ được hiểu là việc bên có nghĩa vụ tạm thời dừng việc thực hiện nghĩa vụ của mình

Cầm giữa tài sản trong hợp đồng song vụ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 10/08/2021

Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thì bên có quyền xác lập quyền cầm giữ tài sản

Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba có thể sửa đổi hoặc hủy bỏ không?

Hỏi đáp luật Dân Sự 11/08/2021

Khi người thứ ba đã đồng ý hưởng lợi ích thì dù hợp đồng chưa được thực hiện, các bên giao kết hợp đồng cũng không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng

Thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba?

Hỏi đáp luật Dân Sự 11/08/2021

Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích.

Quyền từ chối của bên thứ ba?

Hỏi đáp luật Dân Sự 11/08/2021

Quyền từ chối của bên thứ ba được hiểu là quyền từ chối lợi ích của mình phát sinh từ hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba.

Nghĩa vụ không thực hiện được do lỗi của một bên?

Hỏi đáp luật Dân Sự 11/08/2021

Khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia thì có quyền yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc hủy bỏ hợp đồng

Không thực hiện được nghĩa vụ nhưng không do lỗi của các bên?

Hỏi đáp luật Dân Sự 11/08/2021

Một bên không thực hiện được nghĩa vụ mà các bên không có lỗi thì không có quyền yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình.

Thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 12/08/2021

Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm