Trường hợp bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi?

Không điều gì đảm bảo sự an toàn cho một chủ thể từ khi xác lập đến khi chấm dứt hợp đồng. Sự kiện bất ngờ có thể xảy ra bất cứ khi nào khiến cho chủ thể chết, mất năng lực hành vi dân sự, hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Khi xảy ra các trường hợp này làm cho chủ thể không còn khả năng tiếp tục thực hiện hợp đồng được nữa, việc đó làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bên còn lại trong hợp đồng. Do đó, Điều 396 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trường hợp bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, như sau:

Điều 396. Trường hợp bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Trường hợp bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng sau đó chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân bên được đề nghị”.

1.Khái niệm

-Khoản 1 Điều 386 BLDS năm 2015 quy định: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị)”. Để nghị giao kết hợp đồng là giai đoạn đầu tiên của trình tự giao kết hợp đồng. Khi một người muốn thiết lập một hợp đồng thì phải thể hiện ý chí đó ra bên ngoài bằng một hàng vi cụ thể, để bên kia nhận biết được. Do đó, có thể hiểu đơn giản đề nghị giao kết hợp đồng là sự thể hiện ý chí của một người trước một người khác về mong muốn thiết lập một hợp đồng dân sự với người đó.
-Chết là trạng thái bất động của con người, họ không còn có thể tiếp tục sống, sinh hoạt, là sự ngừng vĩnh viễn mọi hoạt động sống của một cơ thể.
-Khoản 1 Điều 22 BLDS năm 2015 quy định: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”. Người bị mất năng lực hành vi không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình. Năng lực hành vi là năng lực mà pháp luật trao cho chủ thể, qua đó chủ thể có thể thông quan hành vi của mình tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự. Điều đó đồng nghĩa với việc người đã mất năng lực hành vi thì không thể tham gia vào các quan hệ dân sự được nữa. Mọi việc của người bị mất năng lực hành vi đều do người giám hộ hoặc người đại diện thực hiện.
-Khoản 1 Điều 23 BLDS năm 2015 quy định: “Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ”. Cũng gần như người bị mất năng lực hành vi dân sự, những người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi ở mức độ nhẹ hơn. Tức họ không hoàn toàn mất đi khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình, mà chỉ ở một mức độ nhất định. Họ vẫn có thể tự mình tham gia một số quan hệ pháp luật dân sự mà người bị mất năng lực hành vi không thể tham gia. Họ vẫn cần người giám hộ, hoặc người đại diện thay mình tham gia những quan hệ mà họ không đủ khả năng nhận thức.

2.Nội dung

-Về nguyên tắc, khi một cá nhân chết, mất năng lực hành vi, hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì không còn khả năng tham gia xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của mình. Tuy nhiên, đối với những cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ đã được xác lập trước đó, thì theo quy định của pháp luật thừa kế, quyền và nghĩa vụ đó sẽ được để lại cho người thừa kế hợp pháp của họ. Còn đối với trường hợp cá nhân mất năng lực hành vi dân sự hay có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi khi cần xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự thì người đại diện hợp pháp sẽ đứng ra thay họ thực hiện. Do đó, để bảo vệ lợi ích của các bên, pháp luật đã quy định trường hợp bên được đề nghị chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân bên đề nghị.
-Thực chất quy định này nhằm bảo vệ lợi ích của bên đề nghị, trong trường hợp họ bên được đề nghị đã trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của họ với nhau, việc vô hiệu hợp đồng do bên được đề nghị không có khả năng thực hiện mặc dù đã đồng ý có thể gây thiệt hại cho bên đề nghị. Vì trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời chấp nhận, theo quy định pháp luật bên đề nghị không được giao kết hợp đồng với bên thứ ba. Như vậy, trong thời gian chờ bên đề nghị có thể bỏ qua nhiều cơ hội hợp tác với người khác, nếu bên được đề nghị đã trả lời chấp nhận mà cuối cùng hợp đồng lại không được ký kết thì không những lãng phí thời gian của của bên đề nghị, mà còn ảnh hưởng đến công việc của họ. Vậy nên, trong trường hợp này người thừa kế hoặc người đại diện cho bên đề nghị sẽ thực hiện thay. 
-Theo quy định của pháp luật, chấp nhận giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị. Do đó, có thể hiểu rằng việc bên được đề nghị trả lời chấp nhận nhưng kèm theo điều kiện hoặc yêu cầu sửa đổi đề nghị, sau đó bên được đề nghị chết, mất năng lực hành vi hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì câu trả lời kèm với điều kiện hoặc sửa đổi sẽ không có hiệu lực pháp luật.
-Ngoài việc công nhận giá trị của đề nghị, thì pháp luật còn ghi nhận thêm trường hợp ngoại lệ khi nội dung giao kết gắn liền với nhân thân của bên được đề nghị. Theo nguyên tắc, thì quyền và nghĩa vụ gắn liền với nhân thân thì không thể chuyển giao, khoản 1 Điều 25 BLDS năm 2015 quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”. 

 Xem thêm: Tổng hợp các bài viết hỏi đáp Luật Dân sự

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Chấm dứt nghĩa vụ khi bên có quyền là cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại?

Hỏi đáp luật Dân Sự 31/07/2021

Nghĩa vụ được thực hiện chỉ dành cho cá nhân, pháp nhân là bên có quyền mà cá nhân chết, pháp nhân chấm dứt tồn tại thì nghĩa vụ cũng chấm dứt

Chấm dứt nghĩa vụ trong trường hợp vật đặc định không còn?

Hỏi đáp luật Dân Sự 31/07/2021

Nghĩa vụ giao vật chấm dứt trong trường hợp vật phải giao là vật đặc định không còn

Chấm dứt nghĩa vụ do hết thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ?

Hỏi đáp luật Dân Sự 31/07/2021

Khi thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết thì nghĩa vụ chấm dứt

Thông tin trong giao kết hợp đồng?

Hỏi đáp luật Dân Sự 02/08/2021

Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.

Hợp đồng là gì?

Hỏi đáp luật Dân Sự 02/08/2021

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng?

Hỏi đáp luật Dân Sự 04/08/2021

Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó;

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng?

Hỏi đáp luật Dân Sự 04/08/2021

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị

Bên được đề nghị có được đề xuất sửa đổi đề nghị không?

Hỏi đáp luật Dân Sự 04/08/2021

Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới