Điều kiện áp dụng pháp luật nước ngoài là gì?

Việc áp dụng pháp luật nước ngoài là cần thiết nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ đầu tư và thống nhất về các nguyên tắc đặt ra trong tư pháp quốc tế. Tuy nhiên, Pháp luật nước ngoài chỉ được áp dụng khi đáp ứng một số điều kiện nhất định. Đó là các điều kiện sau:

1. Điều kiện 1

Các bên phải có thỏa thuận hoặc có quy phạm pháp luật xung đột dẫn chiếu đến trong trường hợp các bên không có thỏa thuận luật áp dụng. Đây là điều kiện cần để pháp luật nước ngoài có thể được áp dụng. Nếu các bên có thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến thì pháp luật nước ngoài đó mới được xem xét áp dụng theo Khoản 5 Điều 4 Luật đầu tư số 61/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020 (sau đây gọi là Luật đầu tư 2020) quy định:

“5. Đối với hợp đồng trong đó có ít nhất một bên tham gia là nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật Đầu tư, các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng việc áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc tập quán đầu tư quốc tế nếu thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật Việt Nam.”

Quy định này phù hợp với quy tắc đặt ra trong khoản 2 điều 664 bộ luật dân sự 2015:

“Điều 664. Xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

2. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên.”

Theo đó, trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lợi cho thì pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên.

Tuy nhiên, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì việc xác định pháp luật áp dụng sẽ căn cứ vào các quy định pháp luật xung đột.

2. Điều kiện 2

Thỏa thuận về áp dụng pháp luật nước ngoài, trong trường hợp các bên có thỏa thuận và thỏa thuận này không trả với quy định của pháp luật. Đây là điều kiện đủ để Pháp luật nước ngoài được xem xét áp dụng. Quyền thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài phải là hợp pháp, tức là được cho phép hoặc không bị cấm, tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia, hoặc độ quy định trong điều ước quốc tế.

Theo như Khoản 5 Điều 4 Luật Đầu tư 2020 quy định ở trên thì các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng việc áp dụng pháp luật nước ngoài nếu thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật Việt Nam. Viện dẫn quy định của bộ luật dân sự 2015 các bên trong quan hệ đầu tư như được quyền thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài nếu trong quan hệ đó có ít nhất một bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài.

3. Điều kiện 3

Nội dung của pháp luật nước ngoài phải được xác định. Đây là điều kiện tiếp theo để pháp luật nước ngoài được xem xét áp dụng. Pháp luật nước ngoài được lựa chọn hoặc dẫn chiếu đến phải được xác định về mặt nội dung. Trường hợp các bên được quyền lựa chọn pháp luật áp dụng và đã thực hiện quyền này này thì có nghĩa vụ cung cấp nội dung pháp luật được lựa chọn cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết và chịu trách nhiệm về tính chính xác và hợp pháp của pháp luật nước ngoài được cung cấp. Trường hợp pháp luật nước ngoài được xác định không dựa trên thỏa thuận của các bên thì các bên có quyền được cung cấp nội dung Pháp luật nước ngoài cho Tòa án. Tòa án cũng có thể yêu cầu Bộ tư pháp, Bộ ngoại giao hoặc cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài cung cấp pháp luật nước ngoài. Tòa án cũng có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn về pháp luật nước ngoài cung cấp thông tin về pháp luật nước ngoài. Nếu nội dung của pháp luật nước ngoài không thể được xác định nội dung dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết Tòa án sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết vụ việc.

4. Điều kiện 4

Việc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam đây là điều kiện cuối cùng để pháp luật nước ngoài được áp dụng. Trong hoạt động đầu tư có thể liên quan đến nhiều quy định chuyên ngành khác nhau như pháp luật về thuế, pháp luật về tổ chức tín dụng, kinh doanh bảo hiểm... Nên việc áp dụng pháp luật nước ngoài còn phải bảo đảm không được trái với các quy định pháp luật khác có liên quan của pháp luật Việt Nam.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Luật đầu tư

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Phương pháp điều chỉnh của Luật đầu tư là những phương pháp nào?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 09/08/2021

3 phương pháp điều chỉnh của Luật đầu tư: Mệnh lệnh bắt buộc, thỏa thuận bình đẳng và phương pháp khuyến khích

Vai trò của Đầu tư là gì?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 09/08/2021

Vai trò của Đầu tư đối với nhà đầu tư và đối với nền kinh tế.

Thế nào là bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 09/08/2021

Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu là một trong những điều kiện mà Nhà thầu, nhà đầu tư là tổ chức phải đáp ứng để có tư cách hợp lệ tham gia đấu thầu.

Thông tin về đấu thầu bao gồm những gì?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 09/08/2021

Khoản 1 Điều 8 Luật đấu thầu năm 2013 quy định về những loại thông tin cần được đăng tải công khai

Quy định về đồng tiền dự thầu và bảo đảm dự thầu?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 09/08/2021

Đồng tiền để dự thầu phải đáp ứng yêu cầu nào? Việc bảo đảm dự thầu được áp dụng trong các trường hợp nào, thực hiện như thế nào?

Thời gian trong quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư là bao lâu?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 09/08/2021

Thời gian thực hiện các bước trong quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư là yếu tố quan trọng được quy định tại Điều 12 Luật đầu tư năm 2013 và Nghị định 25/2020/NĐ-CP