Phá sản tổ chức tín dụng cần lưu ý những gì?

Đối với một số doanh nghiệp thuộc lĩnh vực đặc thù như ngân hàng và các tổ chức tín dụng, sự tồn tại và hoạt động của nó ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế xã hội, đến lợi ích chung của cộng đồng nên việc phá sản các doanh nghiệp này cũng được pháp luật quy định một cách thận trọng, chặt chẽ. Thủ tục phá sản của tổ chức tín dụng có một số điểm đáng lưu ý sau:

1. Thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Khác với thủ tục phá sản doanh nghiệp thông thường, Luật Phá sản năm 2014 quy định rõ việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng chỉ thực hiện sau khi Ngân hàng nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán hoặc văn bản không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán… (Điều 98 Luật Phá sản năm 214). Khi tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng thanh toán, Ngân hàng nhà nước sẽ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng đó. Việc mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng sẽ được thực hiện khi tổ chức tín dụng không có khả năng khôi phục được khả năng thanh toán.

Quy định này phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010.Theo đó, khi tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc khả năng thanh toán, Ngân hàng nhà nước sẽ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng đó; và việc mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng sẽ được thực hiện khi tổ chức tín dụng không có khả năng khôi phục được khả năng thanh toán và Ngân hàng nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán.

Như vậy, quy định về thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng theo Luật phá sản năm 2014 đảm bảo việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản chỉ được thực hiện khi tổ chức tín dụng thực sự không còn khả năng phục hồi, tránh trường hợp tổ chức tín dụng bị nộp đơn yêu cầu phá sản khi chưa thực sự lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, từ đó gây tâm lý hoang mang, ảnh hưởng tới hoạt động của tổ chức tín dụng đó nói riêng và hệ thống các tổ chức tín dụng nói chung.

2. Quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Điều 98 Luật Phá sản năm 2014 quy định như sau:

Điều 98. Quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán thì những người sau đây có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:

1. Người quy định tại các khoản 1, 2, 5 và 6 Điều 5 của Luật này;

2. Tổ chức tín dụng có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; trường hợp tổ chức tín dụng không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng đó.”

Như vậy, những người sau đây được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng:

- Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần.

- Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở.

- Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ công ty quy định.

- Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã.

- Tổ chức tín dụng có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; trường hợp tổ chức tín dụng không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng đó.

3. Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tổ chức tín dụng khi đã có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mà tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán (Điều 99 Luật Phá sản năm 2014).

4. Quyết định tuyên bố tổ chức tín dụng phá sán

Luật Phá sản năm 2014 quy định Tòa án không áp dụng thủ tục Hội nghị chủ nợ và thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh với tổ chức tín dụng.

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản lập xong danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ, bảng kê tài sản của tổ chức tín dụng, Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản (Điều 104 Luật Phá sản năm 2014). Quy định này nhằm đẩy nhanh tiến độ giải quyết phá sản tổ chức tín dụng, đảm bảo quyền và lợi ích cho các chủ nợ của tổ chức tín dụng, phù hợp đặc thù của tổ chức tín dụng và ngăn ngừa tình trạng phá sản dây chuyền.

5. Hoàn trả khoản vay đặc biệt

Điều 100 Luật Phá sản năm 2014 quy định tổ chức tín dụng được vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng mà bị tuyên bố phá sản thì phải hoàn trả khoản vay đặc biệt này cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng khác trước khi thực hiện việc phân chia tài sản theo quy định.

6. Trả lại tài sản nhận ủy thác, nhận giữ hộ khi tổ chức tín dụng bị tuyên bố phá sản và thanh lý tài sản phá sản

Với các khách hàng chuyển giao tài sản cho tổ chức tín dụng giữ hộ, quản lý hộ theo hợp đồng cung cấp dịch vụ của tổ chức tín dụng hoặc chuyển giao tài sản cho tổ chức tín dụng theo hợp đồng ủy thác thì tài sản này không được tính là tài sản của tổ chức tín dụng mà phải trả lại cho chủ tài sản khi tổ chức tín dụng bị phá sản. Theo Điều 102 Luật Phá sản năm 2014, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản, chủ sở hữu tài sản ủy thác cho tổ chức tín dụng, gửi tổ chức tín dụng giữ hộ, giao tổ chức tín dụng quản lý thông qua hợp đồng ủy thác, giữ hộ, quản lý tài sản phải xuất trình giấy tờ chứng minh quyền sở hữu và hồ sơ, giấy tờ liên quan với cơ quan thi hành án dân sự để nhận lại tài sản của mình.

7. Giao dịch của tổ chức tín dụng trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt

Điều 103 Luật Phá sản năm 2014 quy định giao dịch của tổ chức tín dụng thực hiện trong giai đoạn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt hoặc áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán dưới sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ không áp dụng quy định về giao dịch vô hiệu áp dụng cho các doanh nghiệp, hợp tác xã thông thường, bởi đó đều là những giao dịch cần thiết cho việc đảm bảo khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng.

8. Thứ tự phân chia tài sản

Tổ chức tín dụng có nhiều đặc thù như chịu sự điều chỉnh của Luật Các tổ chức tín dụng, thành lập và hoạt động theo cấp phép và quản lý của Ngân hàng nhà nước, có nhiệm vụ quản lý một lượng tài sản lớn là tiền gửi của các tổ chức, cá nhân, nếu phá sản sẽ gây tác động lớn về mặt kinh tế - xã hội tới nhiều đối tượng. Chính vì vậy, việc phân chia tài sản của tổ chức tín dụng có những khác biệt so với doanh nghiệp, hợp tác xã thông thường.

Khoản 1 Điều 101 Luật Phá sản năm 2014 quy định thứ tự phân chia tài sản của tổ chức tín dụng như sau:

Điều 101. Thứ tự phân chia tài sản

1. Việc phân chia giá trị tài sản của tổ chức tín dụng thực hiện theo thứ tự như sau:

a) Chi phí phá sản;

b) Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết;

c) Khoản tiền gửi; khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền tại tổ chức tín dụng phá sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

d) Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.”

Đồng thời theo Khoản 2 Điều 101 Luật Phá sản năm 2014, trường hợp giá trị tài sản của tổ chức tín dụng sau khi đã thanh toán đủ khoản nợ quy định mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về: Thành viên của tổ chức tín dụng là hợp tác xã; Chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Thành viên góp vốn của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; cổ đông của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần.

Trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các đối tượng thuộc cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Luật Phá sản

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Hội nghị chủ nợ được tiến hành như thế nào?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 30/07/2021

Bài viết này trình bày về tiến hành Hội nghị chủ nợ

Phương án phục hồi hoạt động kinh doanh bao gồm các nội dung nào?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 30/07/2021

Bài viết này trình bày về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh

Những chủ thể có quyền, nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 30/07/2021

Bài viết này trình bày về quyền, nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ

Phương án phục hồi hoạt động kinh doanh được thực hiện trong thời hạn như thế nào?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 30/07/2021

Bài viết này trình bày về thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh

Đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh được tiến hành trong trường hợp nào?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 30/07/2021

Bài viết này trình bày về các trường hợp đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh