Trong trường hợp nghĩa vụ liên đối hoặc bảo lãnh, nghĩa vụ tài sản được thực hiện như thế nào?

Nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp nghĩa vụ liên đới hoặc bảo lãnh được pháp luật quy định tại Điều 55 Luật Phá sản năm 2014. Nghĩa vụ này được thực hiện như thế nào? Hãy cùng Luật Hoàng Anh tìm hiểu trong bài viết dưới đây.

1. Nghĩa vụ liên đới

Khoản 1 Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Có thể thấy, để quyền dân sự của các chủ thể được bảo đảm, trong một số trường hợp, nghĩa vụ nhiều người sẽ được xác định là nghĩa vụ dân sự liên đới nếu các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. Mục đích của việc xác định một nghĩa vụ liên đới khi có nhiều người tham gia quan hệ nghĩa vụ là buộc những người có nghĩa vụ phải cùng nhau gánh vác toàn bộ nghĩa vụ nhằm bảo đảm quyền lợi cho chủ thể có quyền được trọn vẹn, kể cả khi có một trong số những người có nghĩa vụ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, trong quan hệ nghĩa vụ liên đới, những người có nghĩa vụ luôn luôn liên quan với nhau trong cả quá trình thực hiện toàn bộ nghĩa vụ cũng như quyền yêu cầu của những người có quyền luôn được coi là một thể thống nhất. Xuất phát từ quy định này, Khoản 1 Điều 55 Luật Phá sản năm 2014 quy định:

Điều 55. Nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp nghĩa vụ liên đới hoặc bảo lãnh

1. Trường hợp nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ liên đới về một khoản nợ mà một hoặc tất cả các doanh nghiệp, hợp tác xã đó mất khả năng thanh toán thì chủ nợ có quyền đòi bất cứ doanh nghiệp, hợp tác xã nào trong số các doanh nghiệp, hợp tác xã đó thực hiện việc trả nợ cho mình theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, trong trường hợp nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ liên đới về một khoản nợ mà một hoặc tất cả các doanh nghiệp, hợp tác xã đó lâm vào tình trạng phá sản, nếu chủ nợ đòi doanh nghiệp, hợp tác xã nào trong số các doanh nghiệp, hợp tác xã đó thực hiện việc trả nợ, thì việc trả nợ do doanh nghiệp, hợp tác xã đó thực hiện. Sau đó doanh nghiệp, hợp tác xã đó có quyền yêu cầu các doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ liên đới về khoản nợ mà mình đã thanh toán hoàn trả lại cho mình phần nghĩa vụ của họ mà mình đã thực hiện việc trả nợ thay.

2. Nghĩa vụ bảo lãnh

Khoản 2, Khoản 3 Điều 55 Luật Phá sản năm 2014 quy định:

Điều 55. Nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp nghĩa vụ liên đới hoặc bảo lãnh

2. Trường hợp người bảo lãnh mất khả năng thanh toán thì việc bảo lãnh được giải quyết như sau:

a) Nếu nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Trường hợp bên bảo lãnh không thanh toán đầy đủ trong phạm vi bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thanh toán phần còn thiếu;

b) Nếu nghĩa vụ bảo lãnh chưa phát sinh thì bên được bảo lãnh phải thay thế biện pháp bảo đảm khác, trừ trường hợp người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh có thỏa thuận khác.

3. Trường hợp người được bảo lãnh hoặc cả người bảo lãnh và người được bảo lãnh đều mất khả năng thanh toán thì người bảo lãnh phải chịu trách nhiệm thay cho người được bảo lãnh theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, theo quy định tại Khoản 2 Điều 55 Luật Phá sản năm 2014, trường hợp người bảo lãnh mất khả năng thanh toán thì việc bảo lãnh được giải quyết như sau:

- Nếu nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Trường hợp bên bảo lãnh không thanh toán đầy đủ trong phạm vi bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thanh toán phần còn thiếu. Điều này hoàn toàn hợp lý bởi vì bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là bên được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Trong trường hợp bên bảo lãnh đó lâm vào tình trạng phá sản thì khó có thể còn tài sản để bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh của mình nên bên được bảo lãnh phải gánh vác nghĩa vụ tài sản của mình đối với người nhận bảo lãnh.

- Nếu nghĩa vụ bảo lãnh chưa phát sinh thì bên được bảo lãnh phải thay thế biện pháp bảo đảm khác, trừ trường hợp người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh có thỏa thuận khác. Thỏa thuận giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh được đề cập ở đây là thỏa thuận về việc bên được bảo lãnh thay thế biện pháp bảo lãnh bằng biện pháp bảo đảm khác. Nói cách khác nếu nghĩa vụ được bảo lãnh chưa đến hạn khi bên bão lãnh lâm vào tình trạng phá sản thì việc bảo lãnh mặc nhiên chấm dứt.

Khoản 3 Điều 55 Luật Phá sản năm 2014 đặt ra một nguyên tắc theo đó “Trường hợp người được bảo lãnh hoặc cả người bảo lãnh và người được bảo lãnh đều mất khả năng thanh toán thì người bảo lãnh phải chịu trách nhiệm thay cho người được bảo lãnh theo quy định của pháp luật”. Có thể hiểu về lý thuyết, việc mở thủ tục phá sản là lúc xuất hiện nguy cơ mà bên nhận bảo lãnh muốn tránh và cũng chính là thời điểm mà bảo lãnh phát huy tác dụng. Khoản 3 Điều 77 Luật Phá sản năm 2014 quy định, bên bảo lãnh sau khi trả nợ thay cho doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có quyền tham gia Hội nghị chủ nợ và trở thành chủ nợ không có bảo đảm. Khi đó, bên bảo lãnh thế quyền của bên nhận bảo lãnh là chủ nợ có bảo đảm đối với khoản nợ được bảo đảm. Nếu kết hợp hai quy định này có thể thấy, khi bên được bảo lãnh lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán mà khoản nợ được bảo lãnh đến hạn thì bên bảo lãnh phải thực hiện thay nghĩa vụ của bên được bảo lãnh. Cụm từ “theo quy định của pháp luật” cần được hiểu theo hướng trong trường hợp bên bảo lãnh cũng mất khả năng thanh toán thì chủ nợ có bảo đảm có thể khai báo khoản nợ cả trong thủ tục phá sản của bên bảo lãnh lẫn bên được bảo lãnh để có thể thu hồi được toàn bộ khoản nợ.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Luật Phá sản

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được pháp luật quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 28/07/2021

Bài viết này trình bày về thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động kinh doanh như thế nào?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 29/07/2021

Bài viết này trình bày về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản

Chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 29/07/2021

Bài viết này trình bày về chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản

Doanh nghiệp, hợp tác xã bị cấm thực hiện những hoạt động nào sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 29/07/2021

Bài viết này trình bày về những hoạt động bị cấm sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản

Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã bị giám sát như thế nào?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 29/07/2021

Bài viết này trình bày về việc giám sát doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản.

Tiền lãi đối với khoản nợ được xác định như thế nào?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 29/07/2021

Bài viết này trình bày về xác định tiền lãi đối với khoản nợ.

Tài sản được phân chia theo thứ tự nào?

Hỏi đáp luật Doanh nghiệp 29/07/2021

Bài viết này trình bày về thứ tự phân chia tài sản.