Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu là gì?

Quân đội và người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu là những người mang trong mình trách nhiệm bảo vệ tổ quốc, giữ gìn an toàn, trật tự quốc gia. Đây là lực lượng không thể thiếu đối với mỗi quốc gia dù trong thời chiến hay trong thời bình. Vì vậy những hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu đều bị coi là phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Chương XXV Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự).

1. Khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu

Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 392 Bộ luật hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu.

Các tội phạm này được quy định tại Chương XXV Bộ luật hình sự, gồm 29 điều (từ Điều 392 đến Điều 420), trong đó có 28 điều quy định về các tội cụ thể và một điều quy định về chủ thể của các tội phạm này:

Điều 392. Những người phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân

Điều 393. Tội ra mệnh lệnh trái pháp luật

Điều 394. Tội chống mệnh lệnh

Điều 395. Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh

Điều 396. Tội cản trở đồng đội thực hiện nhiệm vụ

Điều 397. Tội làm nhục đồng đội

Điều 398. Tội hành hung đồng đội

Điều 399. Tội đầu hàng địch

Điều 400. Tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh

Điều 401. Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu

Điều 402. Tội đào ngũ

Điều 403. Tội trốn tránh nhiệm vụ

Điều 404. Tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự

Điều 405. Tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự

Điều 406. Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự

Điều 407. Tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự

Điều 408. Tội báo cáo sai

Điều 409. Tội vi phạm quy định về trực ban, trực chiến, trực chỉ huy

Điều 410. Tội vi phạm quy định về bảo vệ

Điều 411. Tội vi phạm các quy định về bảo đảm an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện

Điều 412. Tội vi phạm quy định về sử dụng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự

Điều 413. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự

Điều 414. Tội làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

Điều 415. Tội quấy nhiễu nhân dân

Điều 416. Tội lạm dụng nhu cầu quân sự trong khi thực hiện nhiệm vụ

Điều 417. Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh

Điều 418. Tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của tử sỹ

Điều 419. Tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại chiến lợi phẩm

Điều 420. Tội ngược đãi tù binh, hàng binh

2. Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu

2.1. Khách thể của tội phạm

Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu xâm phạm các quan hệ xã hội phát sinh trong quân đội giữa các quân nhân với nhau và giữa các quân nhân với những người không phải quân nhân khi họ thực hiện nhiệm vụ quân sự, huấn luyện quân sự, phối thuộc chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu. Đó là các quan hệ đồng chí, đồng đội và quan hệ cấp trên, cấp dưới. Nội dung của các quan hệ này bao gồm các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của quân nhân được quy định trong rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau do Nhà nước và Quân đội ban hành: Luật Nghĩa vụ quân sự 2015; Luật Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014; Luật Dân quân tự vệ 2019;... Các tội phạm này gây ra hoặc có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng về người, vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự, ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội Nhân dân Việt nam.

Việc hoàn thành nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi quân nhân ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội và chế độ phục vụ trong Quân đội. Vì vậy, khách thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân chính là sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội và chế độ phục vụ trong quân đội. Đây là một trong các căn cứ chủ yếu để quy định các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân thành một chương độc lập trong Bộ luật hình sự.

Khách thể trực tiếp của các tội phạm này là sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội cũng như chế độ phục vụ trong quân đội được hợp thành từ nhiều yếu tố khác nhau. Vì vậy, một hành vi phạm tội cùng một lúc không thể xâm phạm đồng thời tất cả các yếu tố đó cũng như các quan hệ xã hội có liên quan trong lĩnh vực thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân mà chỉ xâm hại đến một hoặc một số quan hệ xã hội nhất định. Quan hệ xã hội cụ thể bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại là khách thể trực tiếp của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân.

Việc phân biệt khách thể loại với khách thể trực tiếp của tội phạm là một trong các căn cứ để quy định các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong Chương XXV Bộ luật hình sự, xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, phân biệt các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân với các tội phạm khác cũng như phân biệt giữa các tội trong một nhóm với nhau.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu được thể hiện bằng hành vi (hành động hoặc không hành động) nguy hiểm cho xã hội xâm phạm kỷ luật, sức mạnh chiến đấu của Quân đội, chế độ phục vụ, công tác trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Một số tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân chỉ có thể được thực hiện bằng hành động như các tội: Tội làm nhục đồng đội; Tội hành hung đồng đội; Tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự,.... Có tội lại chỉ có thể được thực hiện bằng không hành động nhưng đại đa số các tội có thể được thực hiện bằng cả hành động và không hành động.

Tùy vào từng tội phạm cụ thể mà hậu quả của các tội khác nhau. Đối với một số tội phạm, hậu quả là dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội phạm do tội phạm có cấu thành vật chất. Song đối với một số tội hậu quả của tội phạm không phải dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm do tội phạm có cấu thành hình thức.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu thuộc nhóm tội có chủ thể đặc biệt. Ngoài các dấu hiệu chung (có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định), chủ thể của các tội phạm này phải là những người được quy định tại Điều 392 Bộ luật hình sự. Những người khác thuộc lực lượng vũ trang (như: cán bộ, chiến sỹ lực lượng An ninh nhân dân, Công an nhân dân) không phải chịu trách nhiệm về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân (trừ trường hợp họ là đồng phạm).

Bộ luật Hình sự không quy định thế nào là năng lực trách nhiệm hình sự nhưng có quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 21 Bộ luật Hình sự. Theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, người có năng lực trách nhiệm hình sự phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều nhưng không có điều nào thuộc Chương XXV Bộ luật hình sự. Như vậy chủ thể của Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu có thể được thực hiện do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Động cơ, mục đích phạm tội có thể rất khác nhau: sợ hy sinh, gian khổ, hèn nhát, cầu an; do vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác. Việc xác định đúng động cơ, mục đích phạm tội có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phân biệt một số tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân với các tội khác (tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng), trong việc xem xét nhân thân người phạm tội khi quyết định hình phạt v.v...

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Bộ luật Hình sự

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Thời hạn định giá tài sản được quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 10/08/2021

Bài viết trình bày về thời hạn định giá tài sản theo quy định của pháp luật.

Quyền của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác đối với kết luận giám định?

Hỏi đáp luật Hình Sự 10/08/2021

Bài viết trình bày về quyền của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác đối với kết luận giám định theo quy định của pháp luật hiện hành.

Giám định lại trong trường hợp đặc biệt?

Hỏi đáp luật Hình Sự 10/08/2021

Bài viết trình bày quy định việc giám định lại trong trường hợp đặc biệt theo quy định của BLTTHS 2015.

Nội dung, quy trình, thủ tục của bản kết luận giám định?

Hỏi đáp luật Hình Sự 10/08/2021

Bài viết trình bày về nội dung kết luận giám định.

Trong trường hợp nào cần định giá lại tài sản?

Hỏi đáp luật Hình Sự 11/08/2021

Bài viết trình bày về những trường hợp cần phải định giá tài sản theo quy định của pháp luật.

Định giá lại tài sản trong trường hợp đặc biệt được pháp luật hiện hành quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 11/08/2021

Bài viết trình bày về nội dung định giá tài sản trong trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật.

Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt là những biện pháp nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 11/08/2021

Bài viết trình bày về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong quá trình điều tra vụ án hình sự.

Định giá tài sản trong trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn?

Hỏi đáp luật Hình Sự 11/08/2021

Bài viết trình bày về định giá tài sản trong trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn theo quy định của pháp luật.