Cơ quan trung ương trong hợp tác quốc tế về TTHS được quy định như thế nào?

Thứ ba, 31/01/2023, 16:56:45 (GMT+7)

Bài viết trình bày về các cơ quan trung ương trong hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự.

1. Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 493 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) cơ quan trung ương trong hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự được quy định như sau:

“Điều 493. Cơ quan trung ương trong hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự

1. Bộ Công an là Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hoạt động dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao là Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự và những hoạt động hợp tác quốc tế khác theo quy định của pháp luật.”

2. Quy định của BLTTHS 2015 về cơ quan trung ương trong hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự.

Đây là điều luật mới được quy định trong BLTTHS 2015. Quy định này nhằm bảo đảm sự phù hợp với Luật tương trợ tư pháp năm 2007. Điều luật này quy định cơ quan Trung ương hợp tác quốc tế về tố tụng gồm: Bộ Công an và VKSNDTC.

Bộ Công an là Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hoạt động dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Theo đó, “dẫn độ” được hiểu là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó. Còn “chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù” là việc chuyển giao người đang chấp hành án giữa nước ta với các nước, vùng lãnh thổ dựa trên những cơ sở những căn cứ, điều kiện cụ thể theo sự thỏa thuận của các bên. Chính vì vậy, trách nhiệm của Bộ Công an trong Luật tương trợ tư pháp năm 2017 là tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù; xem xét và chuyển hồ sơ cho VKSND, TAND và thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp theo thẩm quyền tại Điều 65 Luật tương trợ tư pháp 2007 cụ thể:

“Điều 65. Trách nhiệm của Bộ Công an

1. Tiếp nhận, chuyển giao, xem xét, giải quyết các yêu cầu của nước ngoài về dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù; xem xét và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp theo thẩm quyền.

2. Đề xuất việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế về dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù; kiến nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tương trợ tư pháp.

3. Định kỳ sáu tháng và hằng năm thông báo với Bộ Tư pháp tình hình thực hiện yêu cầu dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù.”

Và việc thông báo về hình thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp được quy định cụ thể tại Điều 7 Nghị định 92/2008/NĐ-CP, cụ thể như sau:

“Điều 7. Thông báo về tình hình thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp

1. Chậm nhất là ngày 30 tháng 6 và ngày 31 tháng 12 hàng năm, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao gửi Thông báo cho Bộ Tư pháp về tình hình thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp về lĩnh vực thuộc thẩm quyền của mình theo quy định tại các Điều 63, 64, 65, 66 và 67 của Luật Tương trợ tư pháp.

2. Thông báo của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao gửi Bộ Tư pháp có các nội dung chính sau đây:

a. Đánh giá chung về tình hình hoạt động tương trợ tư pháp thuộc lĩnh vực được giao;

b. Đánh giá hiệu quả của sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong việc thực hiện tương trợ tư pháp;

c. Đánh giá về tình hình thực hiện nguyên tắc có đi có lại;

d. Kiến nghị về sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong việc thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp;

đ. Kiến nghị về sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật về tương trợ tư pháp và nhu cầu về ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế liên quan đến tương trợ tư pháp.

Kèm theo thông báo cần có bảng tổng hợp tình hình tương trợ tư pháp của Bộ, ngành theo các Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.”

Viện kiểm sát nhân dân tối cao là Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự và những hoạt động hợp tác quốc tế khác theo quy định của pháp luật. Bởi lẽ trách nhiệm của VKSNDTC trong Luật tương trợ tư pháp năm 2007 là tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi đôn đốc việc thực hiện các ủy thác tư pháp về hình sự, xem xét, giải quyết việc thực hiện và yêu cầu VKSND hoặc CQĐT có thẩm quyền thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự; từ chối hoặc hoãn thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự theo thẩm quyền được quy định tại Điều 64 Luật tương trợ tư pháp 2007, cụ thể:

“Điều 64. Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

1. Tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các ủy thác tư pháp về hình sự; xem xét, quyết định việc thực hiện và yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân hoặc cơ quan điều tra có thẩm quyền thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự; từ chối hoặc hoãn thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự theo thẩm quyền.

2. Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp theo thẩm quyền.

3. Hướng dẫn Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự.

4. Đề xuất việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp; kiến nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tương trợ tư pháp.

5. Định kỳ sáu tháng và hằng năm thông báo với Bộ Tư pháp tình hình thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự.”

Ngoài ra, việc thông báo về tình hình thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp cũng được quy định chi tiết tại Điều 7 Nghị định 92/2008/NĐ-CP.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Luật Hoàng Anh

Dịch vụ pháp lý

Để nhận tin tức và quà tặng từ Luật Hoàng Anh

Đăng ký email

Số điện thoại nhận tin

© Bản quyền thuộc về -Luật Hoàng Anh- Mọi sự sao chép phải được sự chấp thuận của Luật Hoàng Anh bằng văn bản.
Lên đầu trang zalo.png messenger.png 0908 308 123
Tư  vn  min  phí  ngay Chat  vi  lut  sư