Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án khi nào?

Thứ ba, 31/01/2023, 16:42:22 (GMT+7)

Bài viết trình bày về hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án trong giai đoạn phúc thẩm.

1. Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) tuân thủ pháp luật về hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án được quy định như sau:

“Điều 359. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án

1. Khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 157 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án.

2. Khi có một trong các căn cứ quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 157 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.”

2. Quy định của BLTTHS 2015 về hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.

Thứ nhất, Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án khi có căn cứ quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 157 BLTTHS 2015, đó là:

- Không có sự việc phạm tội: Là trường hợp mà sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Cơ quan Điều tra, cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát có đủ cơ sở để xác định sự việc được nêu trong các nguồn tin này không phải là sự việc phạm tội. Nghĩa là sự việc không có dấu hiệu tội phạm theo quy định của Điều 8 BLHS. Điều này diễn ra do nhiều nguyên nhân như: nhầm lẫn của người tố giác, vu khống do thù ghét.

- Hành vi không cấu thành tội phạm: Điều này được hiểu là đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng hành vi này không có đủ những dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS. Ví dụ, một người trộm cắp tài sản với giá trị dưới 2.000.000 đồng và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS (tiền án, tiền sự) thì hành vi của người này chỉ bị xử lý hành chính mà không cấu thành tội phạm quy định tại Điều 173 BLHS.

Thứ hai, Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 157 BLTTHS 2015, đó là:

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 BLHS và được quy định cụ thể trong một số điều luật, tuổi của người chịu trách nhiệm hình sự được khẳng định trên cơ sở giấy khai sinh (bản gốc), sổ đăng ký khai sinh hoặc các bằng chứng xác thực khác. Các giấy tờ này phải bảo đảm độ tin cậy; nếu có nghi ngờ thì phải trưng cầu giám định về tuổi.

Ví dụ: Nếu một người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi dâm ô với người dưới 16 tuổi thì hành vi của người này không cấu thành tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146 BLHS 2015) do không đáp ứng điều kiện về chủ thể. Điều 146 BLHS quy định chủ thể của tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi phải là người “đủ 18 tuổi trở lên”

- Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật: Tòa án là cơ quan xét xử, nhân danh Nhà nước để quyết định bị cáo có phạm tội hay không, nếu có tội thì có bị áp dụng hình phạt hay không và hình phạt gì, biện pháp tư pháp thế nào? Do đó, nếu Tòa án đã có bản án hiệu lực pháp luật kết án một người về một tội phạm mà họ đã thực hiện thì cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án không được khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi phạm tội đó nữa.

- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 27 BLTTHS 2015. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được hiểu là việc một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cấu thành một tội phạm được quy định trong BLHS, lẽ ra người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đó theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cho đến khi sự việc phạm tội mà người này thực hiện được phát hiện, điều tra làm rõ thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự với tội đó theo quy định của pháp luật đã hết, họ đương nhiên sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự và vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự không đặt ra.

- Tội phạm đã được đại xá: Đại xá được hiểu là việc Quốc hội quyết định tha tội cho một nhóm người phạm phải một loại tội nào đó mà đã bị pháp hiện, điều tra, truy tố, xét xử hoặc chưa bị phát hiện.

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết: Mục đích của việc khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự là nhằm trừng phạt và giáo dục người phạm tội. Tuy nhiên, nếu người phạm tội đã chết thì các mục đích này không đạt được. Do đó, việc khởi tố vụ án hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là không cần thiết, trừ trường hợp cần tái thẩm (ví dụ để minh oan) đối với người khác.

Các quy định trong điều luật này chỉ áp dụng trong trường hợp vụ án có một bị cáo. Nếu trong vụ án có nhiều bị cáo mà chỉ có một hoặc một số bị cáo thỏa mãn những căn cứ quy định tại Điều 157 BLTTHS 2015 thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ hủy phần bản án sơ thẩm liên quan, tuyên bố bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án đối với bị cáo đó. Đối với các bị cáo còn lại vẫn tiến hành xét xử bình thường.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Luật Hoàng Anh

Dịch vụ pháp lý

Để nhận tin tức và quà tặng từ Luật Hoàng Anh

Đăng ký email

Số điện thoại nhận tin

© Bản quyền thuộc về -Luật Hoàng Anh- Mọi sự sao chép phải được sự chấp thuận của Luật Hoàng Anh bằng văn bản.
Lên đầu trang zalo.png messenger.png 0908 308 123
Tư  vn  min  phí  ngay Chat  vi  lut  sư