Khi nào phải chuyển vụ án trong giai đoạn xét xử?

1. Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 274 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) chuyển vụ án trong giai đoạn xét xử được quy định như sau:

Điều 274. Chuyển vụ án trong giai đoạn xét xử

1. Khi vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì Tòa án trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đã truy tố để chuyển đến Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố.

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát đã truy tố phải ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố để giải quyết theo thẩm quyền. Việc chuyển vụ án ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu thực hiện theo quy định tại Điều 239 của Bộ luật này.

Khi xét thấy vụ án vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án đã trả hồ sơ thì Viện kiểm sát chuyển lại hồ sơ vụ án đến Tòa án kèm theo văn bản nêu rõ lý do; nếu Tòa án xét thấy vụ án vẫn không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì việc giải quyết tranh chấp thẩm quyền xét xử thực hiện theo Điều 275 của Bộ luật này. Viện kiểm sát phải thực hiện theo quyết định của Tòa án có thẩm quyền.

2. Thời hạn truy tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn được thực hiện theo quy định tại Điều 240 và Điều 241 của Bộ luật này.”

2. Quy định của BLTTHS 2015 về việc chuyển vụ án trong giai đoạn xét xử.

Khi Tòa án đã thụ lý hồ sơ phát hiện thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình. thì Tòa án trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đã truy tố để chuyển đến Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố.

Việc có chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố theo yêu cầu của Tòa án hay không phụ thuộc vào Viện kiểm sát đã truy tô, cụ thể:

- Nếu Viện kiểm sát đã truy tố nhất trí với quan điểm của Tòa án, thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát đã truy tố phải ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố để giải quyết theo thẩm quyền. Việc chuyển vụ án ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu thực hiện theo quy định tại Điều 239 của BLTTHS:

“Điều 239. Thẩm quyền truy tố

1. Viện kiểm sát cấp nào thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp đó quyết định việc truy tố. Thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát được xác định theo thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với vụ án.

Trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Việc chuyển vụ án cho Viện kiểm sát ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu quyết định.

Đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định của Bộ luật này.

2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án, Viện kiểm sát phải thông báo bằng văn bản cho Cơ quan đã kết thúc điều tra vụ án, bị can hoặc người đại diện của bị can, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác.

Việc giao, gửi hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 240 của Bộ luật này. Trong trường hợp này, thời hạn truy tố được tính từ ngày Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố nhận được hồ sơ vụ án.”

- Nếu Viện kiểm sát đã truy tố xét thấy vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án đã trả hồ sơ thì Viện kiểm sát chuyển lại hồ sơ vụ án đến Tòa án kèm theo văn bản nêu rõ lý do; nếu Tòa án xét thấy vụ án vẫn không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì việc giải quyết tranh chấp thẩm quyền xét xử thực hiện theo Điều 275 của BLTTHS:

“Điều 275. Giải quyết việc tranh chấp về thẩm quyền xét xử

1. Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, giữa các Tòa án quân sự khu vực trong cùng một quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu quyết định.

2. Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau, giữa các Tòa án quân sự khu vực thuộc các quân khu khác nhau do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi kết thúc việc điều tra quyết định.

3. Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh, giữa các Tòa án quân sự cấp quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương quyết định.

4. Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định.

Việc chuyển vụ án để xét xử theo thẩm quyền được thực hiện theo quy định tại Điều 274 của Bộ luật này.”

Khi Tòa án cấp trên có thẩm quyền quyết định vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án đã thụ lý hồ sơ, thì Tòa án đã thụ lý hồ sơ trả hồ sơ cho Viện kiểm sát đã truy tố để chuyển đến Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố. Viện kiểm sát phải thực hiện theo quyết định của Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc tranh chấp về thẩm quyền xét xử.

Thời hạn truy tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn được thực hiện theo quy định tại Điều 240 và Điều 241 của BLTTHS, cụ thể:

- Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định: Truy tố bị can trước Tòa án; Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;  Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.

- Trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

- Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của BLTTHS. Thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn truy tố không được quá: 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về người làm chứng?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết trình bày các quy định hiện hành về người làm chứng

BLTTHS 2015 quy định như thế nào về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết trình bày về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Thế nào là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết trình bày các quy định của pháp luật hiện hành về người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

Những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết trình bày về nội dung những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành.

Bộ luật tố tụng hình sự quy định về vấn đề bảo quản vật chứng như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết trình bày về vấn đề bảo quản vật chứng theo quy định của pháp luật hiện hành.

Nguồn chứng cứ là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết trình bày về nguồn chứng cứ theo quy định của pháp luật hiện hành.

Bị đơn dân sự là gì? Bị đơn dân sự có các quyền và nghĩa vụ như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết trình bày các quy định của pháp luật về khái niệm, quyền và nghĩa vụ của bị đơn dân sự

Thu thập chứng cứ là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết trình bày về nội dung thu thập chứng cứ của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn dân sự là gì? Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn dân sự được quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết trình bày về khái niệm, quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành

Vật chứng là gì? Vật chứng được BLTTHS năm 2015 quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết trình bày về khái niệm, đặc trưng của vật chứng theo quy định của pháp luật hiện hành.

Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về người phiên dịch, người dịch thuật ?

Hỏi đáp luật Hình Sự 23/07/2021

Bài viết trình bày các quy định của pháp luật hiện hành về người phiên dịch, người dịch thuật