Nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra được hiểu như thế nào?

1. Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra được quy định như sau:

“Điều 170. Nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra

1. Cơ quan điều tra có thể nhập để tiến hành điều tra theo thẩm quyền trong cùng một vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Bị can phạm nhiều tội;

b) Bị can phạm tội nhiều lần;

c) Nhiều bị can cùng thực hiện một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm, tiêu thụ tài sản do bị can phạm tội mà có.

2. Cơ quan điều tra chỉ được tách vụ án trong trường hợp cần thiết khi không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm và nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.

3. Quyết định nhập hoặc tách vụ án phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định. Trường hợp không nhất trí với quyết định nhập hoặc tách vụ án của Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ và nêu rõ lý do.”

2. Quy định của BLTTHS 2015 về nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra trong hoạt động tố tụng.

Nhập để tiến hành điều tra trong cùng một vụ án là trường hợp các vụ phạm tội đã được khởi tố theo các quyết định khởi tố vụ án khác nhau được đưa vào cùng một vụ án để tập trung chỉ đạo điều tra theo một mối thống nhất. Việc nhập vụ án là để tiến hành hoạt động điều tra và xử lý tội phạm được đầy đủ, toàn diện và triệt để, thực hiện sự nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời cũng để nâng cao hiệu quả các hoạt động điều tra, xử lý tội phạm.

Cơ quan điều tra có thể nhập để tiến hành điều tra theo thẩm quyền trong cùng một vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:

- Bị can phạm nhiều tội: là từ 02 tội trở lên;

- Bị can phạm tội nhiều lần là từ 02 lần trở lên;

- Nhiều bị can cùng thực hiện một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm, tiêu thụ tài sản do bị can phạm tội mà có.

Tội che giấu tội phạm quy định tại Điều 389 được sửa đổi bởi Khoản 137 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 19 Điều này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, Điều 390 BLHS và được sửa đổi tại Khoản 138 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017.

“Điều 389. Tội che giấu tội phạm (sửa đổi tại Khoản 137 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017)

1. Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội phạm quy định tại các điều sau đây của Bộ luật này, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm:

a) Các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120 và 121;

b) Điều 123, các khoản 2, 3 và 4 Điều 141, Điều 142, Điều 144, khoản 2 và khoản 3 Điều 146, các khoản 1, 2 và 3 Điều 150, các điều 151, 152, 153 và 154;

c) Điều 168, Điều 169, các khoản 2, 3 và 4 Điều 173, các khoản 2, 3 và 4 Điều 174, các khoản 2, 3 và 4 Điều 175, các khoản 2, 3 và 4 Điều 178;

d) Khoản 3 và khoản 4 Điều 188, khoản 3 Điều 189, khoản 2 và khoản 3 Điều 190, khoản 2 và khoản 3 Điều 191, khoản 2 và khoản 3 Điều 192, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 193, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 194, các khoản 2, 3 và 4 Điều 195, khoản 2 và khoản 3 Điều 196, khoản 3 Điều 205, các khoản 2, 3 và 4 Điều 206, Điều 207, Điều 208, khoản 2 và khoản 3 Điều 219, khoản 2 và khoản 3 Điều 220, khoản 2 và khoản 3 Điều 221, khoản 2 và khoản 3 Điều 222, khoản 2 và khoản 3 Điều 223, khoản 2 và khoản 3 Điều 224;

đ) Khoản 2 và khoản 3 Điều 243;

e) Các điều 248, 249, 250, 251, 252 và 253, khoản 2 Điều 254, các điều 255, 256, 257 và 258, khoản 2 Điều 259;

g) Các khoản 2, 3 và 4 Điều 265, các điều 282, 299, 301, 302, 303 và 304, các khoản 2, 3 và 4 Điều 305, các khoản 2, 3 và 4 Điều 309, các khoản 2, 3 và 4 Điều 311, khoản 2 và khoản 3 Điều 329;

h) Các khoản 2, 3 và 4 Điều 353, các khoản 2, 3 và 4 Điều 354, các khoản 2, 3 và 4 Điều 355, khoản 2 và khoản 3 Điều 356, các khoản 2, 3 và 4 Điều 357, các khoản 2, 3 và 4 Điều 358, các khoản 2, 3 và 4 Điều 359, các khoản 2, 3 và 4 Điều 364, các khoản 2, 3 và 4 Điều 365;

i) Khoản 3 và khoản 4 Điều 373, khoản 3 và khoản 4 Điều 374, khoản 2 Điều 386;

k) Các điều 421, 422, 423, 424 và 425.”

 “Điều 19. Không tố giác tội phạm (được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017)

1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.”.

“Điều 391. Tội gây rối trật tự phiên tòa (sửa đổi bởi Khoản 139 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017)

 Người nào biết rõ một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 của Bộ luật này đang được chuẩn bị hoặc một trong các tội phạm quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Không được nhập vụ án hình sự trong trường hợp các vụ án riêng biệt và những hoạt động phạm tội của bị can không có liên quan với nhau hoặc chưa đủ tài liệu để xác định việc liên quan của các hoạt động phạm tội này.

Tách vụ án hình sự là chia một vụ án ra hai hay nhiều vụ án cụ thể để điều tra, Việc tách vụ án hình sự xuất phát từ yêu cầu của hoạt động điều tra phải nhanh chóng, kịp thời, phục vụ tốt cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Cơ quan Điều tra chỉ được tách vụ án trong trường hợp cần thiết khi không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm và nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.

Thực tiễn hoạt động điều tra, tách vụ án hình sự thường là các vụ án về ma túy, các vụ án tham nhũng liên quan đến nhiều người, trên địa bàn nhiều tỉnh và thời gian phạm tội kéo dài.

Quyết định nhập hoặc tách vụ án phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định. Trường hợp không nhất trí với quyết định nhập hoặc tách vụ án của Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ và nêu rõ lý do.

Nếu cơ quan Điều tra không nhất trí với lý do của Viện kiểm sát về việc quyết định hủy bỏ quyết định nhập hoặc tách vụ án thì Cơ quan Điều tra có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.

Như vậy, Điều luật đã bổ sung thêm trường hợp nhập để tiến hành điều tra “Bị can phạm tội nhiều lần”; bổ sung hành vi “tiêu thụ tài sản do bị can phạm tội mà có”; quy định thêm trường hợp không nhất trí với quyết định nhập và tách vụ án của Cơ quan Điều tra thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ và nên rõ lý do.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Người định giá tài sản là ai?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/07/2021

Bài viết trình bày các quy định của pháp luật hiện hành về người định gía tài sản

Tại sao cần phải xử lý vật chứng?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/07/2021

Bài viết trình bày về trách nhiệm xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật hiện hành.

Tại sao cần phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/07/2021

Bài viết trình bày về các biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong quá trình tiến hành hoạt động tố tụng hình sự theo pháp luật hiện hành.

Pháp luật quy định về giữ người trong trường hợp khẩn cấp như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/07/2021

Bài viết quy định về các trường hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tại sao cần phải kiểm tra, đánh giá chứng cứ?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/07/2021

Bài viết trình bày về nội dung kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành.

Thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử được quy định như thế nào trong Bộ luật tố tụng hình sự?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/07/2021

Bài viết trình bày về việc thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.