Quy trình, thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra?

1. Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 449 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) tuân thủ pháp luật về áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra được quy định như sau:

“Điều 449. Áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra

1. Khi Cơ quan điều tra trưng cầu giám định pháp y tâm thần mà kết quả giám định xác định bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Cơ quan điều tra gửi văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cùng kết luận giám định cho Viện kiểm sát cùng cấp để xem xét, quyết định.

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Cơ quan điều tra cùng kết luận giám định, Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp chữa bệnh đối với bị can hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại nếu thấy chưa đủ căn cứ để quyết định.

2. Trường hợp Viện kiểm sát ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra đối với bị can.”

2. Quy định của BLTTHS 2015 về áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra

Điều luật quy định về trách nhiệm của CQĐT sau khi tra trưng cầu giám định pháp y tâm thần mà kết quả giám định xác định bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Cơ quan điều tra gửi văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cùng kết luận giám định cho Viện kiểm sát cùng cấp để xem xét, quyết định.

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Cơ quan điều tra cùng kết luận giám định, Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp chữa bệnh đối với bị can hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại nếu thấy chưa đủ căn cứ để quyết định, cụ thể:

- Việc giám định bổ sung được tiến hành trong các trường hợp: Nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ; khi phát sinh vấn đề mới cần phải giám định liên quan đến các tình tiết của vụ án đã có kết luận giám định trước đó.

- Việc giám định lại được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác.

Chính vì vậy, thủ tục giám định bổ sung, giám định lại được tiến hành theo quy định tại các Điều 210, 211 và 212 BLTTHS 2015, cụ thể:

“Điều 210. Giám định bổ sung

1. Việc giám định bổ sung được tiến hành trong trường hợp:

a) Nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ;

b) Khi phát sinh vấn đề mới cần phải giám định liên quan đến tình tiết của vụ án đã có kết luận giám định trước đó.

2. Việc giám định bổ sung có thể do tổ chức, cá nhân đã giám định hoặc tổ chức, cá nhân khác thực hiện.

3. Việc trưng cầu, yêu cầu giám định bổ sung được thực hiện như giám định lần đầu.

Điều 211. Giám định lại

1. Việc giám định lại được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác. Việc giám định lại phải do người giám định khác thực hiện.

2. Cơ quan trưng cầu giám định tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng quyết định việc trưng cầu giám định lại. Trường hợp người trưng cầu giám định không chấp nhận yêu cầu giám định lại thì phải thông báo cho người đề nghị giám định bằng văn bản và nêu rõ lý do.

3. Trường hợp có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ hai do người trưng cầu giám định quyết định. Việc giám định lại lần thứ hai phải do Hội đồng giám định thực hiện theo quy định của Luật giám định tư pháp.

Điều 212. Giám định lại trong trường hợp đặc biệt

Trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc giám định lại sau khi đã có kết luận của Hội đồng giám định. Việc giám định lại trong trường hợp đặc biệt phải do Hội đồng mới thực hiện, những người đã tham gia giám định trước đó không được giám định lại. Kết luận giám định lại trong trường hợp này được sử dụng để giải quyết vụ án.”

Nếu trong trường hợp Viện kiểm sát ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra đối với bị can. Việc tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra đối với bị can được thực hiện theo quy định tại các Điều 229 và 230 BLTTHS 2015, cụ thể:

“Điều 229. Tạm đình chỉ điều tra

1. Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Khi chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án. Trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu, Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra;

b) Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra;

c) Khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả.

2. Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can.

3. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định này cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của họ.

Điều 230. Đình chỉ điều tra

1. Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự;

b) Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

2. Quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và những vấn đề khác có liên quan.

Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can.

3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra kèm theo hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ thì Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố theo thời hạn, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật này.”

Như vậy, đây là Điều luật được BLTTHS 2015 xây dựng mới, khắc phục những thiếu sót của BLTTHS 2003 khi Điều luật này chỉ quy định nội dung CQĐT phải điều tra những vụ án có căn cứ để cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng lại không quy định cụ thể về công việc của CQĐT, VKS phải thực hiện sau khi có kết quả giám định tâm thần, nó thể hiện sự hạn chế, thiếu sót trong BLTTHS 2003 mà BLTTHS 2015 đã bổ sung.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 16/09/2021

Bài viết trình bày về nội dung thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm.

Khi nào Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án?

Hỏi đáp luật Hình Sự 16/09/2021

Bài viết trình bày về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm trong việc hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật.

Quyết định giám đốc thẩm bao gồm những nội dung gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 17/09/2021

Bài viết trình bày về nội dung của quyết định giám đốc thẩm theo quy định của pháp luật.

Khi nào quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực? Quy trình, thủ tục của việc gửi quyết định giám đốc thẩm?

Hỏi đáp luật Hình Sự 17/09/2021

Bài viết trình bày về thời điểm có hiệu lực của quyết định giám đốc thẩm và việc gửi quyết định giám đốc thẩm cho các bên có liên quan sau khi xét xử giám đốc thẩm.

Khi nào Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật?

Hỏi đáp luật Hình Sự 17/09/2021

Bài viết trình bày về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm trong việc sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Thời hạn chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 17/09/2021

Bài viết trình bày về thời hạn chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại trong trường hợp Hội đồng giám đốc thẩm quyết định hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Tính chất của tái thẩm là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 17/09/2021

Bài viết trình bày khái quát về tính chất của thủ tục tái thẩm theo quy định pháp luật.

Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 17/09/2021

Bài viết trình bày về các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.