Quyết định của Tòa án trong giai đoạn xét xử đối với những vụ án cho rằng bị can, bị cáo không có năng lực TNHS?

1. Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 451 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) quyết định của Tòa án trong giai đoạn xét xử được quy định như sau:

“Điều 451. Quyết định của Tòa án trong giai đoạn xét xử

1. Sau khi thụ lý vụ án, nếu có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo không có năng lực trách nhiệm hình sự thì Tòa án trưng cầu giám định pháp y tâm thần.

2. Căn cứ vào kết luận giám định, Tòa án có thể ra một trong những quyết định:

a) Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;

b) Trả hồ sơ để điều tra lại hoặc điều tra bổ sung;

c) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;

d) Đưa vụ án ra xét xử.

3. Ngoài quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, Tòa án có thể giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vấn đề khác liên quan đến vụ án.”

2. Quy định của BLTTHS 2015 về quyết định của Tòa án trong giai đoạn xét xử đối với những vụ án cho rằng bị can, bị cáo không có năng lực TNHS.

Sau khi nhận hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng do Viện kiểm sát chuyển sang, Tòa án thụ lý vụ án và nếu có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo không có năng lực trách nhiệm hình sự thì Tòa án trưng cầu giám định pháp y tâm thần.

Đây là trường hợp Tòa án tự mình phát hiện các căn cứ cho rằng bị can không có năng lực trách nhiệm hình sự và tiến hành trưng cầu giám định. Những căn cứ này không được Viện kiểm sát phát hiện và xử lý trong giai đoạn truy tố nên vẫn chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng sang Tòa án xét xử.

Trong giai đoạn xét xử, căn cứ vào kết luận giám định, Tòa án có thể ra một trong những quyết định:

a) Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;

Tùy từng trường hợp cụ thể, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại Điều 281, Điều 282 BLTTHS 2015. Cùng với việc ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với bị can, bị cáo.

b) Trả hồ sơ để điều tra lại hoặc điều tra bổ sung;

Căn cứ vào kết luận giám định, Tòa án có thể ra kết luận trả hồ sơ vụ án, yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung nếu xét thấy “còn thiếu chứng cứ để chứng minh một những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật này” mà Tòa án không thể tự mình bổ sung được theo quy định tại Điều 245 BLTTHS 2015.

c) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;

Căn cứ vào kết luận giám định, Tòa án có thể ra quyết định miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;

Việc miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được kết luận giám định không có năng lực trách nhiệm hình sự được Tòa án áp dụng “khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa”

Việc miễn hình phạt đối với bị cáo được giám định kết luận không có năng lực trách nhiệm hình sự được Tòa án áp dụng khi hành vi phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 BLHS 2015 “mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự” được quy định tại Điều 59 BLHS 2015.

Cùng với việc ra quyết định miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, Tòa án phải ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

d) Đưa vụ án ra xét xử.

Nếu kết luận giám định xác định bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự- tức là thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi cũng như không mắc bệnh tâm thần sau khi thực hiện hành vi đó thì Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung theo quy định của BLTTHS 2015.

Ngoài quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, Tòa án có thể giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vấn đề khác liên quan đến vụ án. Nếu kết luận giám định xác định bị cáo không có năng lực trách nhiệm hình sự tức là thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng không có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi hoặc mắc bệnh tâm thần sau khi thực hiện hành vi đó mà gây thiệt hại thì Tòa án vẫn có thể giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại (nếu hành vi nguy hiểm cho xã hội của người đó đã gây ra thiệt hại).

Nếu hành vi gây thiệt hại xảy ra khi người đó đang trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra thuộc về trường học, bệnh viện, pháp nhân khác đang trực tiếp quản lý người đó người đó. Nếu trường học, bệnh viện, pháp nhân khác chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý thì không phải bồi thường. Khi đó, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường theo quy định tại Điều 599 BLDS 2015.

Đối với người rơi vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự sau khi phạm tội thì người đang quản lý tài sản của người đó phải bồi thường nếu người phạm tội là người đã thành niên và có tài sản riêng. Nếu người đó không có tài sản riêng thì người giám hộ phải bồi thường.

Cùng với việc giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, Tòa án còn có thể giải quyết các vấn đề khác liên quan đến vụ án như quyết định trả lại tài sản cho chủ sở hữu, tịch thu, tiêu hủy hoặc sung quỹ Nhà nước tang vật của vụ án.

Điều luật được xây dựng trên cơ sở Điều 314 BLTTHS 2003, bổ sung thêm thẩm quyền của Tòa án trong việc trưng cầu giám định pháp y tâm thần sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản cáo trạng do Viện kiểm sát chuyển sang.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Thành phần tham dự phiên họp của HĐTPTANDTC để xem xét lại quyết định bị kiến nghị, đề nghị?

Hỏi đáp luật Hình Sự 19/09/2021

Bài viết trình bày về việc thành phần tham dự phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị, đề nghị.

Thẩm định hồ sơ vụ án; xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật?

Hỏi đáp luật Hình Sự 19/09/2021

Bài viết trình bày về việc Chánh án TANDTC phải tổ chức việc thẩm định hồ sơ vụ án và tổ chức việc xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật trong trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật.

Phạm vi áp dụng thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/09/2021

Bài viết trình bày về phạm vi áp dụng thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật.

Chủ thể nào có thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/09/2021

Bài viết trình bày về người tiến hành tố tụng đối với vụ án có người dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật hiện hành.

Gửi quyết định của HĐTPTANDTC về việc xem xét lại quyết định của HĐTPTANDTC?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/09/2021

Bài viết trình bày về gửi quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Những vấn đề cần xác định khi tiến hành tố tụng đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/09/2021

Bài viết trình bày về những vấn đề cần xác định khi tiến hành tố tụng đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật.

Thủ tục và thẩm quyền xem xét lại quyết định của HĐTPTANDTC là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/09/2021

Bài viết trình bày về thủ tục và thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/09/2021

Bài viết trình bày về nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật.