So sánh tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu với tội chống mệnh lệnh?

Nội dung

Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu

Tội chống mệnh lệnh

Căn cứ pháp lý

Điều 401 Bộ luật Hình sự

Điều 394 Bộ luật Hình sự

Khách thể

Khách thể của tội này là kỷ luật trong chiến đấu và kỷ luật chiến trường; sức mạnh chiến đấu của Quân đội thậm chí là an nguy của đất nước.

Khách thể của tội phạm là quan hệ chỉ huy, phục tùng trong quân đội.

Mặt khách quan

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này thể hiện ở hành vi tự ý bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ chiến đấu.

Bỏ vị trí chiến đấu là hành vi tự rời bỏ vị trí chiến đấu đã được phân công mà không được phép của người chỉ huy có thẩm quyền. Cũng coi là bỏ vị trí chiến đấu trường hợp quân nhân không có mặt ở vị trí chiến đấu đã được phân công mà không có lý do. Vị trí chiến đấu là vị trí mà quân nhân được phân công đảm nhận trong chiến đấu, bao gồm: vị trí địa lý (như: khu vực lãnh thổ, không phận, hải phận) hoặc vị trí trong kíp chiến đấu bằng các khí tài, phương tiện kỹ thuật quân sự.

Không làm nhiệm vụ trong chiến đấu là trường hợp quân nhân đang làm nhiệm vụ chiến đấu, tuy vẫn có mặt ở vị trí chiến đấu và có đủ điều kiện, nhưng không thực hiện nhiệm vụ theo chức trách hoặc nhiệm vụ chiến đấu được phân công. Hành vi không làm nhiệm vụ trong chiến đấu được thực hiện dưới dạng không hành động: không thực hiện những công việc mà theo chức trách họ phải thực hiện trong chiến đấu (như: không nổ súng, không nối đường dây liên lạc,...). Nhiệm vụ ở đây phải là nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu (thông tin, cứu thương, tiếp tế hậu cần,...).

Tội phạm hoàn thành từ thời điểm người phạm tội rời khỏi vị trí chiến đấu, không có mặt tại vị trí chiến đấu đã được phân công hoặc không thực hiện nhiệm vụ được giao mà không cần phải có hậu quả xảy ra.

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này được thể hiện ở hành vi từ chối chấp hành hoặc cố tình không thực hiện mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc của cấp trên có thẩm quyền.

Từ chối không thực hiện mệnh lệnh là hành vi, có thể bằng lời nói hoặc hành động, công khai thể hiện sự chống lại mệnh lệnh của người chỉ huy có thẩm quyền.

Cố tình không thực hiện mệnh lệnh là hành vi tuy không công khai thể hiện sự chống lại mệnh lệnh nhưng cố tình không thực hiện nhiệm vụ được giao, mặc dù không có trở ngại gì.

Người chỉ huy trực tiếp là quân nhân được giao chỉ huy một tổ chức bộ đội nhất định từ tiểu đội hoặc tương đương trở lên và người phạm tội thuộc trong biên chế của tổ chức đó. Cấp trên có thẩm quyền là người có chức vụ cao hơn (nếu người phạm tội và người bị hại cùng biên chế trong một tổ chức bộ đội nhất định) hoặc là người có cấp bậc quân hàm cao hơn (nếu không cùng biên chế trong một tổ chức bộ đội).

Nếu người phạm tội và người bị hại không cùng biên chế trong một tổ chức bộ đội nhất định nhưng cùng được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định thì người được giao phụ trách là cấp trên, nếu không ai được giao phụ trách thì người có cấp bậc quân hàm cao hơn là cấp trên.

Mệnh lệnh là lệnh của cấp trên (bằng lời nói hoặc văn bản) bắt buộc cấp dưới phải chấp hành. Mệnh lệnh có thể bị chống lại một phần hay toàn bộ. Mệnh lệnh này phải là mệnh lệnh hợp pháp của người chỉ huy có thẩm quyền.

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của tội phạm. Tội phạm hoàn thành từ thời điểm người vi phạm thực hiện một trong các hành vi nêu trên.                                                   

Chủ thể

Chủ thể của tội chống mệnh lệnh là chủ thể đặc biệt. Chỉ những người được quy định tại Điều 392 Bộ luật Hính sự mới có thể bị bắt buộc phục tùng mệnh lệnh.

Ngoài ra, người phạm tội phải đáp ứng đủ điều kiện về tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Mặt chủ quan

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Động cơ phạm tội thường là do hèn nhát, tham sống sợ chết, cầu an...và mục đích không phải nhằm chống chính quyền nhân dân.

Tội chống mệnh lệnh được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp, tức là người phạm tội hoàn toàn nhận thức được hành vi chống mệnh lệnh của mình, biết trước được hậu quả của hành vi này nhưng mong muốn hậu quả xảy ra hoặc dù không mong muốn nhưng có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

Động cơ phạm tội có thể là do thù tức đối với người chỉ huy, động cơ cá nhân, sợ hy sinh, gian khổ,...Mục đích phạm tội rất đa dạng và có thể là nhằm để người chỉ huy không hoàn thành nhiệm vụ, bị mất uy tín hoặc để được thay đổi nhiệm vụ, vị trí công tác,... Động cơ và mục đích phạm tội tuy không phải là yếu tố bắt buộc để định tội nhưng có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội.

Hình phạt

Điều 401 Bộ luật Hình sự quy định 03 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Người nào tự ý rời bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Bỏ vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu bí mật công tác quân sự;

c) Lôi kéo người khác phạm tội;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng.

- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

Điều 394 Bộ luật Hình sự quy định 04 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Người nào từ chối chấp hành hoặc cố ý không thực hiện mệnh lệnh của người có thẩm quyền, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Lôi kéo người khác phạm tội;

c) Dùng vũ lực;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Trong chiến đấu;

b) Trong khu vực có chiến sự;

c) Trong thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn;

d) Trong tình trạng khẩn cấp;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Bộ luật Hình sự

Luật Hoàng Anh

 

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

So sánh tội hành hung đồng đội với tội làm nhục đồng đội?

Hỏi đáp luật Hình Sự 14/08/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội hành hung đồng đội với tội làm nhục đồng đội.

So sánh tội phản bội tổ quốc với tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh?

Hỏi đáp luật Hình Sự 14/08/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội phản bội tổ quốc với tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh.

So sánh tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh với tội đầu hàng địch?

Hỏi đáp luật Hình Sự 14/08/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh với tội đầu hàng địch.

So sánh tội phản bội tổ quốc với tội đầu hàng địch?

Hỏi đáp luật Hình Sự 14/08/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội phản bội tổ quốc với tội đầu hàng địch

Tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 14/08/2021

Tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh quy định tại Điều 400 BLHS

Tội đầu hàng địch là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 14/08/2021

Tội đầu hàng địch quy định tại Điều 399 BLHS

Quyết định truy tố bị can được quy định như thế nào trong BLTTHS 2015?

Hỏi đáp luật Hình Sự 15/08/2021

Bài viết trình bày về quyết định truy tố bị can theo quy định của pháp luật.

Tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố được quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 15/08/2021

Bài viết trình bày việc tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố theo quy định của pháp luật hiện hành.