So sánh Tội buôn lậu với Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới?

Nội dung

Tội buôn lậu

Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới

Căn cứ pháp lý

Điều 188 Bộ luật Hình sự

Điều 189 Bộ luật Hình sự

Khách thể

Khách thể của tội phạm là chính sách xuất, nhập khẩu của Nhà nước đối với hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc di vật, cổ vật.

Mặt khách quan

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý.

Buôn bán trái phép... là hành vi vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại để trao đổi trái với các quy định của Nhà nước về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá: vận chuyển hàng hoá qua cửa khẩu mà không khai báo hoặc khai báo hàng hoá một cách gian dối hoặc giấu giếm hàng hoá, tiền tệ... hoặc sử dụng các loại giấy tờ giả mạo của các cơ quan có thẩm quyền; vận chuyển hàng hoá bí mật, lén lút không qua cửa khẩu để trốn tránh sự phát hiện của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Hải quan, Bộ đội biên phòng, các lực lượng tuần tra kiểm soát khác),... Hành vi này có thể được thực hiện bằng đường bộ, đường thuỷ, đường không hoặc bằng đường bưu điện.

Hành vi buôn lậu chỉ cấu thành tội phạm khi giá trị hàng buôn lậu từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

Trường hợp giá trị hàng hóa có giá trị dưới 100.000.000 đồng nhưng vẫn bị coi là phạm tội khi thỏa mãn một trong hai điều kiện sau:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

Trường hợp lần đầu buôn lậu với giá trị hàng hóa dưới 100.000.000 đồng thì người thực hiện hành vi này sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020.

Sau khi đã bị xử phạt hành chính về hành vi buôn lậu theo quy định của pháp luật mà nười phạm tội vẫn thực hiện hành vi buôn lậu hoặc đã bị kết án về tội tại một trong các điều 189 (Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới), 190 (Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm), 191 (Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm), 192 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả), 193 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm), 194 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh), 195 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi), 196 (Tội đầu cơ) và 200 (Tội trốn thuế) của Bộ luật Hình sự mà chưa hết thời hạn xóa án tích theo quy đinh tại Chương X – Xóa án tích, lại tiếp tục thực hiện hành vi buôn lậu với giá trị hàng hóa dưới 100.000.000 đồng thì vẫn cấu thành tội phạm.

b) Vật phạm pháp là di vật, cổ vật.

Theo quy định của Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29/06/2010 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Di sản văn hóa số 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009:

“Điều 4

...

5. Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học.

6. Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên.”

Di vật, cổ vật là đồ vật có ý nghĩa lịch sử đối với đất nước, là tài sản cần được bảo tồn. Hành vi buôn lậu để mua, bán cổ vật, di vật làm của riêng thể hiện sự thiếu ý thức trong công cuộc gìn giữ giá trị truyền thống của dân tộc, đánh mất bản sắc văn hóa quốc gia. Do đó, dù giá trị di vật, cổ vật dưới 100.000.000 đồng thì hành vi buôn lậu vẫn đủ điều kiện cấu thành tội phạm.

Hậu quả của hành vi buôn lậu là những thiệt hại đến tính mạng, tài sản và những thiệt hại khác do hành vi buôn lậu gây ra. Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tuy nhiên, nếu hậu quả do hành vi buôn lậu gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt có mức cao hơn. Thiệt hại trực tiếp do hành vi buôn lậu gây ra là Nhà nước không kiểm soát được hàng hoá xuất nhập khẩu, gây thất thoát thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu hàng hoá.

Tội phạm được hoàn thành kể từ khi thực hiện hành vi vận chuyển các loại hàng hoá qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại nêu trên. Trường hợp khi hàng hoá đã vào nội địa mà bị phát hiện vẫn cấu thành tội buôn lậu.

 

Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới.

Nếu ở tội buôn lậu, người phạm tội chỉ có hành vi buôn bán trái phép qua biên giới, thì tội vận chuyển trái phép...,người phạm tội cũng chỉ có hành vi vận chuyển bằng nhiều thủ đoạn và phương pháp khác nhau ( đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không hoặc thông qua bưu chính viễn thông). Dấu hiệu đặc trưng để phân biệt với hành vi buôn lậu là người phạm tội không phải là chủ hàng, họ chỉ là người vận chuyển cho chủ hàng, có lấy tiền công hoặc không lấy tiền công (thông thường là vận chuyển thuê).

Người phạm tội có thể tự mình vận chuyển trái phép... hoặc thông qua người khác để vận chuyển trái phép... Nếu thông qua người khác để vận chuyển thì cần phân biệt: Nếu là vụ án vận chuyển trái phép... có đồng phạm thì hành vi thông qua người khác để vận chuyển là hành vi của người giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, còn người trực tiếp vận chuyển là người thực hành; nếu người trực tiếp vận chuyển là người chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì hành vi thông qua người khác để vận chuyển được coi là hành vi của người giữ vai trò là người thực hành, người trực tiếp vận chuyển chỉ là phương tiện để người phạm tội sử dụng để phạm tội. Đây cũng là thủ đoạn mà người phạm tội buôn lậu cũng như người phạm tội vận chuyển trái phép... thường sử dụng để tránh sự trừng trị của pháp luật.

Hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới chỉ cấu thành tội phạm khi giá trị hàng vận chuyển trái phép từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

Trường hợp giá trị hàng hóa có giá trị dưới 100.000.000 đồng nhưng vẫn bị coi là phạm tội khi thỏa mãn một trong hai điều kiện sau:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

Trường hợp lần đầu buôn lậu với giá trị hàng hóa dưới 100.000.000 đồng thì người thực hiện hành vi này sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020.

Sau khi đã bị xử phạt hành chính về hành vi buôn lậu theo quy định của pháp luật mà nười phạm tội vẫn thực hiện hành vi buôn lậu hoặc đã bị kết án về tội tại một trong các điều 189 (Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới), 190 (Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm), 191 (Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm), 192 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả), 193 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm), 194 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh), 195 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi), 196 (Tội đầu cơ) và 200 (Tội trốn thuế) của Bộ luật Hình sự mà chưa hết thời hạn xóa án tích theo quy đinh tại Chương X – Xóa án tích, lại tiếp tục thực hiện hành vi buôn lậu với giá trị hàng hóa dưới 100.000.000 đồng thì vẫn cấu thành tội phạm.

b) Vật phạm pháp là di vật, cổ vật.

Theo quy định của Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29/06/2010 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Di sản văn hóa số 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009:

“Điều 4

...

5. Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học.

6. Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên.”

Di vật, cổ vật là đồ vật có ý nghĩa lịch sử đối với đất nước, là tài sản cần được bảo tồn. Hành vi buôn lậu để mua, bán cổ vật, di vật làm của riêng thể hiện sự thiếu ý thức trong công cuộc gìn giữ giá trị truyền thống của dân tộc, đánh mất bản sắc văn hóa quốc gia. Do đó, dù giá trị di vật, cổ vật dưới 100.000.000 đồng thì hành vi buôn lậu vẫn đủ điều kiện cấu thành tội phạm.

Hậu quả của hành vi vận chuyển trái phép hàng hoá tiền tệ qua biên giới là những thiệt hại đến tính mạng, tài sản và những thiệt hại khác do hành vi vận chuyển trái phép... gây ra. Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm cũng như không phải là yếu tố định khung hình phạt của tội phạm này.

Tội phạm được coi là hoàn thành kể thời điểm người phạm tội thực hiện một trong các hành vi nêu trên, kể cả trường hợp hàng hoá đã vận chuyển trót lọt vào nội địa mới bị phát hiện.

 

Chủ thể

Chủ thể của tội phạm có thể là người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng cũng có thể là pháp nhân thương mại.

 

Mặt chủ quan

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện và mong muốn hành vi buôn bán được thực hiện nhằm mục đích kiếm lời vì động cơ vụ lợi. Mục đích buôn bán kiếm lời là dấu hiệu đặc trưng cho tội buôn lậu và là căn cứ để phân biệt tội buôn lậu với tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới.

 

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết rõ hành vi vận chuyển hàng hoá, tiền tệ qua biên giới của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Mục đích phạm tội không phải là buôn bán nhằm thu lời bất chính. Động cơ phạm tội là vụ lợi (vận chuyển thuê để lấy tiền công). Đây là căn cứ để phân biệt tội này với tội buôn lậu.

 

Hình phạt

Điều 188 Bộ luật Hình sự quy định 05 Khung hình phạt đối với cá nhân phạm tội và 06 Khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội buôn lậu như sau:

1. Người nào buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Vật phạm pháp là di vật, cổ vật.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

d) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Vật phạm pháp là bảo vật quốc gia;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

h) Phạm tội 02 lần trở lên;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:

a) Vật phạm pháp trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên;

c) Lợi dụng chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

6. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; hàng hóa trị giá dưới 200.000.000 đồng nhưng là di vật, cổ vật; hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, h và i khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng;

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này, thì bị phạt tiền từ 7.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

đ) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

e) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Điều 189 Bộ luật Hình sự quy định 04 Khung hình phạt đối với cá nhân phạm tội và 05 khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại.

1. Người nào vận chuyển qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Vật phạm pháp là di vật, cổ vật

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Vật phạm pháp là bảo vật quốc gia;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Phạm tội 02 lần trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội trong trường hợp vật phạm pháp trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; hàng hóa trị giá dưới 200.000.000 đồng nhưng là di vật, cổ vật; hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, e và g khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

 

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Bộ luật Hình sự

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

BLTTHS 2015 quy định về triệu tập bị can như nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 04/08/2021

Bài viết trình bày về nội dung triệu tập bị can trong quá trình hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật.

Hỏi cung bị can được tiến hành khi nào? Thủ tục hỏi cung bị can?

Hỏi đáp luật Hình Sự 04/08/2021

Bài viết trình bày về nội dung, trình tự thủ tục hỏi cung bị can theo quy định của pháp luật hiện hành.

Tại sao phải triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự trong vụ án hình sự?

Hỏi đáp luật Hình Sự 04/08/2021

Bài viết trình bày về triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.

Ai có thẩm quyền ra lệnh khám xét?

Hỏi đáp luật Hình Sự 04/08/2021

Bài viết trình bày về chủ thể có thẩm quyền ra lệnh khám xét theo quy định của BLTTHS 2015.

Hoạt động điều tra nhận dạng là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 04/08/2021

Bài viết trình bày về hoạt động điều tra nhận dạng theo quy định của pháp luật.

Khi nào cần áp dụng biện pháp điều tra đối chất trong vụ án hình sự?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/08/2021

Bài viết trình bày về hoạt động điều tra đối chất theo quy định của BLTTHS 2015.

BLTTHS 2015 quy định về nhận biết giọng nói như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/08/2021

Bài viết trình bày về hoạt động điều tra nhận biết giọng nói trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.

Căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/08/2021

Bài viết trình bày về nội dung căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử theo quy định của pháp luật hiện hành.