So sánh Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy với Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy?

Nội dung

Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy

Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy

Căn cứ pháp lý

Điều 257 Bộ luật Hình sự

Điều 258 Bộ luật Hình sự

Khách thể

Khách thể của tội phạm là chế độ quản lý của Nhà nước về việc sử dụng chất ma tuý vào các mục đích chữa bệnh và vì vậy, quan hệ xã hội bị xâm phạm còn bao gồm cả tính mạng, sức khoẻ, trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, chủ yếu vẫn là chế độ quản lý về việc sử dụng chất ma tuý.

 

Mặt khách quan

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ.

Dùng vũ lực

Hành vi dùng vũ lực trong tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy cũng tương tự với hành vi dùng vũ lực ở một số tội phạm khác mà người phạm tội có dùng vũ lực, nhưng ở tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi dùng vũ lực là nhằm cưỡng ép người khác sử dụng ma túy trái ý muốn của họ. Hành vi này, thông thường dưới dạng hành động như: Vật lộn, giữ chân tay, bịt mồm, bóp cổ, đánh đấm, trói v.v... Những hành vi này chủ yếu làm tê liệt sự kháng cự của người bị hại để người phạm tội  thực hiện được việc ép họ sử dụng trái phép chất ma túy.

Đe doạ dùng vũ lực

Đe doạ dùng vũ lực là hành vi của một người dùng lời nói hoặc hành động uy hiếp tinh thần của người khác, làm cho người bị đe dọa sợ hãi như: doạ giết, dọa đánh, dọa bắn... làm cho người bị hại sợ hãi phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của mình. Người phạm tội có thể đe dọa dùng vũ lực trực tiếp với nạn nhân như dọa giết nạn nhân,... nhưng cũng có thể đe dọa sẽ dùng vũ lực với người thân thích, người mà nạn nhân quan tâm như đe dọa sẽ giết con gái của nạn nhân nếu nạn nhân không sử dụng trái phép chất ma túy,...

Tất cả những hành vi trên đều phải trái ý muốn của người bị hại. Trái với ý muốn của nạn nhân là người bị hại không đồng ý, phó mặc hoặc không có khả năng biểu lộ ý chí của mình đối với hành vi cưỡng ép nạn nhân sử dụng chất ma túy của người phạm tội. Chỉ khi nào chứng minh việc giao cấu đó là trái với ý muốn của người bị hại thì người có hành vi cưỡng ép nạn nhân sử dụng chất ma túy mới bị coi là phạm tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

Hậu quả của hành vi cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là những thiệt hại cho xã hội, trong đó trực tiếp gây ra những thiệt hại về trật tự an toàn xã hội, tính mạng, sức khoẻ của chính người sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, hậu quả của tội phạm này không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

Khi xác định hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý cần phân biệt với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý mà người phạm tội cũng có hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý.

Hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cũng dùng những thủ đoạn mua chuộc, rủ rê, dụ dỗ, xúi dục người khác để họ sử dụng ma tuý, chỉ khác nhau ở chỗ:

- Người phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý ngoài hành vi lôi kéo người sử dụng trái phép chất ma tuý còn có hành vi đưa chất ma tuý vào cơ thể của người sử dụng ma tuý hoặc tìm kiếm người sử dụng trái phép chất ma tuý cho người tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý để người tổ chức đưa chất ma tuý vào cơ thể của người sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Người phạm tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý chỉ có hành vi lôi kéo, còn việc đưa chất ma tuý vào cơ thể của người bị cưỡng bức, bị lôi kéo là do tự người sử dụng ma tuý thực hiện.

Hậu quả của hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là những thiệt hại cho xã hội, trong đó trực tiếp gây ra những thiệt hại về trật tự an toàn xã hội, tính mạng, sức khoẻ của chính người sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, hậu quả của tội phạm này không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

 

Chủ thể

Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Mặt chủ quan

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm, thấy trước hậu quả của hành vi và mong muốn hậu quả xảy ra. Mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt chủ quan của cấu thành tội phạm.

Hình phạt

Điều 257 Bộ luật Hình sự quy định 05 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Vì động cơ đê hèn hoặc vì tư lợi;

d) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi

đ) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

e) Đối với 02 người trở lên;

g) Đối với người đang cai nghiện;

h) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

c) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội trong trường hợp làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Điều 258 Bộ luật Hình sự quy định 05 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

1. Người nào rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Vì động cơ đê hèn hoặc vì tư lợi;

d) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

đ) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

e) Đối với 02 người trở lên;

g) Đối với người đang cai nghiện;

h) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

c) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội trong trường hợp gây chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

5. Khung hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết Bộ luật Hình sự

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/07/2021

Bài viết trình bày về trách nhiệm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS 2015

Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyết định, yêu cầu của CQĐT, Viện kiểm sát?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/07/2021

Bài viết trình bày về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyết định, yêu cầu của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát theo quy định của BLTTHS 2015.

Ủy thác điều tra được BLTTHS 2015 quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 31/07/2021

Bài viết trình bày về khái niệm, hình thức, tính chất của ủy thác điều tra theo quy định của pháp luật hiện hành.

BLTTHS 2015 quy định về thời hạn điều tra như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 31/07/2021

Bài viết trình bày về thời hạn điều tra vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành.

Tại sao cần phải có sự tham dự của người chứng kiến?

Hỏi đáp luật Hình Sự 31/07/2021

Bài viết trình bày quy định về sự tham dự của người chứng kiến trong hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS 2015.

Thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại được quy định như thế nào trong BLTTHS 2015?

Hỏi đáp luật Hình Sự 31/07/2021

Bài viết trình bày về nội dung quy định thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại theo quy định của pháp luật hiện hành.

So sánh Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy?

Hỏi đáp luật Hình Sự 02/08/2021

Trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng có quy định về hành vi lôi kéo người khác sử dụng chất ma túy nhưng pháp luật vẫn quy định riêng biệt tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy tại một điều luật riêng biệt.

Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật hiện hành là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 02/08/2021

Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 258 BLHS.