So sánh tội gián điệp với tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự?

Nội dung

Tội gián điệp

Tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự

Căn cứ pháp lý

Điều 110 Bộ luật Hính sự

Điều 404 Bộ luật Hình sự

Khách thể

Theo từ điển Tiếng Việt, gián điệp là kẻ do địch cài vào để do thám tình hình và phá hoạt. Theo đó, ta có thể hiểu tội gián điệp là tội phạm do người thực hiện nhằm mục đích do thám tình hình đối nội, đối ngoại của đất nước và phá hoại sự ổn định anh ninh đối ngoại và an toàn đối nội. An ninh đối ngoại, an toàn đối nội được hiểu là độc lập, chủ quyền quốc gia, sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị, văn hóa, kinh tế, nền quốc phòng, an ninh và sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Như vậy tội gián điệp là tội phạm xâm phạm đến an ninh đối ngoại, an toàn đối nội quốc gia, nói cách khác, khách thể của tội gián điệp là sự ổn định tình hình đối nội đối ngoại của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Giữ gìn bí mật Nhà nước và bí mật quân sự là một trong những nghĩa vụ, trách nhiệm quan trọng của quân nhân: “Quân nhân phải tuyệt đối giữ giữ gìn bí mật của Nhà nước và quân đội, đề cao cảnh giác cách mạng. Nếu bị địch bắt quyết một lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng, không phản bội xưng khai” (Điều 2 Điều lệnh quản lý bộ đội).

Tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự trực tiếp xâm phạm chế độ quy định về bảo quản và giữ gìn bí mật công tác quân sự, xâm phạm an toàn các bí mật công tác quân sự và hoạt động quân sự của các đơn vị quân đội.

Như vậy, khách thể của tội phạm là bí mật công tác quân sự và hoạt động quân sự của các đơn vị quân đội.

Mặt khách quan

Khoản 1 Điều 110 Bộ luật hình sự quy định 03 hành vi cấu thành tội gián điệp như sau:

a) Hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

b) Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại.

c) Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tội gián điệp là loại tội phạm có cấu thành hình thức nên tội phạm được coi là hoàn thành từ rất sớm – khi nhận sự chỉ đạo của nước ngoài để hoạt động gián điệp đã được coi là tội phạm hoàn thành. Trường hợp chuẩn bị phạm tội xảy ra khi người phạm tội chuẩn bị những điều kiện cần thiết để thực hiện tội gián điệp. Ví dụ như người đó chuẩn bị thu thập tư liệu bí mật với mục đích cung cấp nhưng tư liệu đó cho nước ngoài nhưng chưa kịp thực hiện đã bị phát hiện, truy tố.

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi làm cho người khác biết về những bí mật công tác quân sự.

Hành vi này có thể là hành động (như: nói, giới thiệu, cho người khác ghi chép, sao chụp...các nội dung thuộc bí mật quân sự) hoặc không hành động (không thực hiện các quy định về bảo quản, giữ gìn, cất giữ...) với mục đích để cho người khác biết các nội dung thuộc bí mật quân sự.

Hậu quả xảy ra không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tội phạm hoàn thành từ thời điểm khi người thứ hai không có trách nhiệm biết được các nội dung bí mật công tác quân sự.

Chủ thể

Chủ thể của tội gián điệp là người có năng lực trách nhiệm hình sự (năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi) và đạt đủ độ tuổi theo điều 12 Bộ luật hình sự (người từ đủ 16 tuổi trở lên). Tùy từng hành vi mà chủ thể của hành vi có thể là người Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch.

- Chủ thể của hành vi hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người nước ngoài, người không có quốc tịch bởi họ hoạt động phục vụ cho tổ chức nước ngoài hoặc nhà nước nước ngoài, họ được chủ đến Việt Nam để hoạt động tình báo hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, chống phá nhà nước Việt Nam.

- Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại. Trường hợp này gồm hai hành vi với 02 chủ thể là công dân Việt Nam tạo điều kiện cho hoạt động tình báo phá hoại ở Việt Nam và người nước ngoài, người không quốc tịch thực hiện hành vi báo thám.

- Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chủ thể thực hiện hành vi này chỉ có thể là Công dân Việt Nam bởi chỉ có công dân Việt Nam mới có cơ hội được tiếp cận với những thông tin là bí mật của nhà nước Việt Nam.

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt. Chỉ những người được quy định tại Điều 392 Bộ luật Hình sự mới có thể thực hiện tội phạm.

Họ chỉ có thể là:

“Điều 392. Những người phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân

1. Quân nhân tại ngũ, công nhân, viên chức quốc phòng.

2. Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện.

3. Dân quân, tự vệ trong thời gian phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu.

4. Công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội.”

Ngoài ra, chủ thể của tội phạm phải đáp ứng điều kiện từ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.

Mặt chủ quan

Các hành vi được miêu tả cấu thành tội gián điệp đã thể hiện rõ mục đích xâm phạm đến tình hình chính trị, an ninh, tình hình đối nội đối ngoại của nước Việt Nam. Do đó yếu tố lỗi là lỗi cố ý, người phạm tội hoàn toàn có thể nhìn thấy trước hậu quả hành vi của mình gây ra, nhưng vẫn thực hiện nó. Vì vậy, những hành vi do vô ý, thiếu trách nhiệm để lộ thông tin nhà nước không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội gián điệp. Tuy nhiên việc để lộ bí mật nhà nước, người để lộ vẫn phải chịu các tội khác theo quy định của Luật bảo vệ bí mật Nhà nước số: 29/2018/QH14 ngày 15 tháng 11 năm 2018.

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và có ý thức thực hiện hành vi đó. Động cơ phạm tội là vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác. Mục đích phạm tội không phải là cung cấp cho nước ngoài. Động cơ và mục đích phạm tội không phải dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này.

Hình phạt

Điều 110 quy định 04 khung hình phạt đối với tội gián điệp như sau:

- Khung hình phạt cơ bản: có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

- Khung hình phạt giảm nhẹ có mức phạt từ 05 năm đến 15 năm tù. Đây là những trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ (phạm tội lần đầu, tự thứ, thành khẩn khai báo,...)

- Khung hình phạt áp dụng đối với người chuẩn bị phạm tội quy định hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

- Miễn trách nhiệm hình sự áp dụng với người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Điều 404 Bộ luật hình sự quy định 02 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Người nào cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điều 110, 337 và 361 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Là chỉ huy hoặc sỹ quan;

b) Trong khu vực có chiến sự;

c) Trong chiến đấu;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Bộ luật Hình sự

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án được quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 15/08/2021

Bài viết trình bày về nội dung giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án theo quy định của pháp luật hiện hành.

Đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố được quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 15/08/2021

Bài viết trình bày về việc đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố.

Tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố được quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 15/08/2021

Bài viết trình bày việc tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố theo quy định của pháp luật hiện hành.

So sánh tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu với tội chống mệnh lệnh?

Hỏi đáp luật Hình Sự 16/08/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu với tội chống mệnh lệnh.

So sánh tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh với tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu?

Hỏi đáp luật Hình Sự 16/08/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh với tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu.

So sánh tội đào ngũ với tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu?

Hỏi đáp luật Hình Sự 16/08/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội đào ngũ với tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu.

Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 16/08/2021

Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu quy định tại Điều 401 BLHS.

Tội đào ngũ là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 16/08/2021

Tội đào ngũ quy định tại Điều 402 BLHS.