So sánh tội phản bội tổ quốc với tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh?

Nội dung

Tội phản bội tổ quốc

Tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh

Căn cứ pháp lý

Điều 108 Bộ luật Hình sự

Điều 399 Bộ luật Hình sự

Khách thể

Tội phản bội Tổ quốc là tội phạm xâm phạm đến quan hệ xã hội trong lĩnh vực an ninh quốc gia. Đó là chế độ xã hội chủ nghĩa, xâm phạm nền độc lập, chủ quyền dân tộc, lực lượng vũ trang nhân dân (lượng lượng bảo vệ quốc gia). Đây là những mục tiêu cơ bản mà ông cha ta đã đấu tranh và bảo vệ qua 02 cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ. Như vậy, khách thể của tội phạm này là: nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ Xã hội Chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tiềm lực quốc phòng, an ninh .

Trung thành với Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng vừa là vinh dự, truyền thống tốt đẹp, vừa là trách nhiệm của mỗi quân nhân.

Điều này còn được ghi nhận tại Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam như sau:

“Điều 65.

Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.”

Tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh trực tiếp xâm phạm kỷ luật chiến đấu, trách nhiệm trung thành với Tổ quốc, bảo vệ bí mật quân sự của quân nhân, truyền thống và bản chất của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Như vậy, khách thể của tội phạm là kỷ luật chiến đấu, trách nhiệm trung thành với Tổ quốc, bảo vệ bí mật quân sự của quân nhân, truyền thống và bản chất của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Mặt khách quan

Hành vi phạm tội trong mặt khách quan của tội “Phản bội tổ quốc” là hành vi câu kết với nước ngoài.

Theo từ điển tiếng Việt online, “câu kết” là động từ chỉ sự hợp lại với nhau thành phe cánh để cùng thực hiện âm mưu xấu xa.

Từ đó, có thể hiểu “câu kết với nước ngoài” là hành vi liên kết, hợp sức với nước ngoài thể hiện thông qua các hành vi cụ thể như: cùng bàn bạc, thống nhất kế hoạch gây nguy hại cho đất nước hoặc cùng bàn bạc, thống nhất về sự tài trợ từ nước ngoài để thực hiện việc lên kế hoạch, chuẩn bị thực hiện những hành vi gây hại cho khách thể mà Bộ luật hình sự bảo vệ.

Trong đó, gây nguy hại cho đất nước gồm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tiềm lực quốc phòng, an ninh

- Gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là làm những hành vi khiến cho nhà nước mất đi quyền tự quyết định đối với các vấn đề đối nội, đối ngoại của mình, lãnh thổ quốc gia bị xâm phạm.

- Gây nguy hại cho chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là có hành vi gây tổn hại đến sự vững mạnh, ổn định của chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương. Ví dụ hành vi xúi giục người dân không tuân thủ chính sách mà Nhà nước đề ra là hành vi gây nguy hại.

- Gây nguy hại cho tiềm lực quốc phòng, an ninh. Tiềm lực quốc phòng, an ninh là yếu tố để bảo vệ Tổ quốc trước nguy cơ xâm hại của các nước khác trên thế giới. Chúng ta đang sống trong thời bình không có nghĩa là chúng ta bỏ quên yếu tố quốc phòng. Phát triển tiềm lực quốc phòng để đề phòng sự lắm le muốn xâm lược từ bên ngoài, bảo vệ sự phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội trong nước. Gây nguy hại cho tiềm lực quốc phòng, an ninh là gây ra những hành vi có hại cho sự vững mạnh của nên quốc phòng toàn dân. Ví dụ như việc cấu kết với nước ngoài để bắt cóc bộ đội hoặc cấu kết với nước ngoài thực hiện đánh phá trụ sở quân đội.

Như vậy, nếu chỉ có hành vi liên hệ, móc nối với nước ngoài, nhận viện trợ và làm theo chỉ đạo của nước ngoài thì không được coi là “câu kết với nước ngoài”. Nếu không có sự “câu kết” nhưng vẫn có hành vi gây hại cho đất nước thì người thực hiện hành vi không phải chịu tội phản bội tổ quốc nhưng có thể phải chịu một số tội khác như Tội hoạt đông nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109), Tội gián điệp (Điều 110),...

Nước ngoài” ở đây là chỉ bất kì đất nước nào ngoài nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Đối tượng mà người phạm tội thực hiện việc câu kết có thể là cá nhân, tổ chức hoặc kể cả chính phủ nước ngoài.

Tội phạm này được coi là hoàn thành kể từ khi người phạm tội có hành vi câu kết với nước ngoài thực hiện mục đích xâm phạm đến khách thể mà tội “phản bội Tổ quốc” bảo vệ.

Trên đây là nội dung 02 dấu hiệu pháp lý của tội phản bội tổ quốc gồm dấu hiệu về khách thể và dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm. Những dấu hiệu pháp lý còn lại, hình phạt và ví dụ minh họa sẽ được Luật Hoàng Anh phân tích kĩ ở bài viết sau.

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh thể hiện ở hành vi khai báo bí mật công tác quân sự hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh.

Khai báo bí mật công tác quân sự cho địch là cung cấp cho địch những tin tức thuộc về bí mật quân sự mà người phạm tội biết được khi chưa bị bắt bằng các hình thức: nói, viết, vẽ sơ đồ hoặc các hình thức khác làm cho địch nắm được các thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng của Quân đội và Nhà nước ta. Hành vi khai báo bí mật quân sự cấu thành tội phạm không phụ thuộc vào việc khai báo đó là tự nguyện hay do bị địch tra tấn.

Tự nguyện làm việc cho địch là hành vi tự giác làm những việc có tính chất quân sự hoặc phục vụ cho công việc quân sự có hại cho Tổ quốc (như: tự nguyện làm việc trong nhà máy chế tạo vũ khí, tra tấn đồng đội cùng là tù binh, làm phiên dịch,...).

Hậu quả xảy ra không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm người đó khai báo bí mật quân sự cho địch hoặc tự nguyện làm việc cho địch.

Chủ thể

Chủ thể của tội phản bội Tổ quốc được quy định là công dân Việt Nam – Người mang quốc tịch Việt Nam, không phân biệt đang cứ trú trên lãnh thổ quốc gia Việt Nam hay đang định cư ở nước ngoài. Người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch không thể là chủ thể của tội phạm này.

Chủ thể của tội phạm cũng phải đủ từ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt. Chỉ những người được quy định tại Điều 392 Bộ luật Hình sự mới có thể thực hiện tội phạm.

Chủ thể của tội phạm cũng phải đủ từ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.

Mặt chủ quan

Tội phạm này chỉ có thể thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp với mục đích  nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tiềm lực quốc phòng, an ninh.

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Động cơ phạm tội thường là do hèn nhát, tham sống sợ chết, cầu an...và mục đích không phải nhằm chống chính quyền nhân dân.

Hình phạt

Điều 108 quy định 02 khung hình phạt chính cho tội Phản bội Tổ quốc và 01 khung hình phạt cho trường hợp chuẩn bị phạm tội:

- Khung hình phạt cơ bản có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình áp dụng với công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tiềm lực quốc phòng, an ninh

- Khung hình phạt giảm nhẹ có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

- Khung hình phạt cho trường hợp chuẩn bị phạm tội có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 400 Bộ luật Hình sự quy định 03 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Người nào khi bị địch bắt làm tù binh mà khai báo bí mật công tác quân sự hoặc tự nguyện làm việc cho địch, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Đối xử tàn ác với tù binh khác;

c) Lôi kéo người khác khai báo, làm việc cho địch;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Giao nộp cho địch vật, tài liệu bí mật nhà nước hoặc khai báo bí mật nhà nước;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Bộ luật Hình sự

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội hành hung đồng đội là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 14/08/2021

Tội hành hung đồng đội quy định tại Điều 398 BLHS

So sánh tội cản trở đồng đội thực hiện nhiệm vụ với tội làm nhục đồng đội?

Hỏi đáp luật Hình Sự 14/08/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội cản trở đồng đội thực hiện nhiệm vụ với tội làm nhục đồng đội

Tội làm nhục đồng đội là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 14/08/2021

Tội làm nhục đồng đội quy định tại Điều 397 BLHS

So sánh tội cản trở đồng đội thực hiện nhiệm vụ với tội hành hung đồng đội?

Hỏi đáp luật Hình Sự 14/08/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội cản trở đồng đội thực hiện nhiệm vụ với tội hành hung đồng đội.

So sánh tội hành hung đồng đội với tội làm nhục đồng đội?

Hỏi đáp luật Hình Sự 14/08/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội hành hung đồng đội với tội làm nhục đồng đội.