So sánh tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự với tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ?

Nội dung

Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự

Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ

Căn cứ pháp lý

Điều 332 Bộ luật Hính sự

Điều 333 Bộ luật Hình sự

Khách thể

Khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính về đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ và gọi tập trung huấn luyện.

Cũng giống với tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự, khách thể của tội phạm này là chính sách (chế độ) nghĩa vụ quân sự của Nhà nước; xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan hành chính Nhà nước, trong đó có các cơ quan quân sự địa phương về việc gọi quân nhân dự bị nhập ngũ.

Mặt khách quan

Người phạm tội này, có thể thực hiẹn một hoặc một số hành vi sau:

- Không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự;

- Không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ;

- Không chấp hành lệnh gọi tập trung huấn luyện.

Không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng việc đăng ký nghĩa vụ quân sự theo quy định của pháp luật như: đã có lệnh gọi, nhưng không đến cơ quan quân sự đăng ký nghĩa vụ quân sự hoặc đến không đúng thời gian, địa điểm đăng ký; không khám sức khoẻ hoặc có hành vi gian dối khi khám sức khoẻ nhằm trốn tránh việc nhập ngũ.

Không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ là hành vi của người đã đăng ký nghĩa vụ quân sự, có lệnh gọi nhập ngũ nhưng không nhập ngũ hoặc đã đến nơi nhập ngũ lại bỏ trốn không thực hiện các thủ tục cần thiết để nhập ngũ. Nếu đã làm thủ tục nhập ngũ, đã trở thành quân nhân mà bỏ trốn thì không thuộc trường hợp phạm tội này mà phạm tội “đào ngũ”.

Không chấp hành lệnh gọi tập trung huấn luyện là trường hợp người có đủ điều kiện theo quy định của Luật nghĩa vụ quân sự phải có nghĩa vụ huấn luyện và đã có lệnh gọi tập trung huấn luyện nhưng không đến nơi tập trung huấn luyện hoặc có đến nhưng bỏ về nên không thực hiện được Chương trình huấn luyện.

Hậu quả của tội phạm này là những thiệt hại do hành vi không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ và không chấp hành lệnh gọi tập trung huấn luyện gây ra. Các thiệt hại này có thể là vật chất hoặc phi vật chất. Tuy nhiên, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Vì vậy, chỉ cần xác định hành vi phạm tội và các dấu hiệu khách quan khác chứ không cần xác định hậu quả của tội phạm, nếu có thiệt hại xảy ra thì đó chỉ là tình tiết xem xét khi quyết định hình phạt.

Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ trong trường hợp có lệnh tổng động viên, lệnh động viên cục bộ, có chiến tranh hoặc có nhu cầu tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội để chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ và không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, về bản chất không có gì khác nhau. Quân nhân dự bị không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ thực chất là hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự.

Không chấp hành có thể là không hành động, nhưng cũng có thể là hành động. Người phạm tội không chấp hành có thể là đã nhận được lệnh gọi nhập ngũ nhưng không đến nơi nhập ngũ (nơi giao quân), nhưng cũng có thể là họ bỏ địa phương đi nơi khác trước ngày nhập ngũ hoặc biết trước có chủ trương gọi quân nhân dự bị nhập ngũ họ đã bỏ đi địa phương khác để tránh việc bị gọi nhập ngũ; có trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ bằng cách tự gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của mình để không phải nhập ngũ.

Hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ bị coi là phạm tội trong 04 trường hợp có lệnh tổng động viên, lệnh động viên cục bộ, có chiến tranh hoặc có nhu cầu tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội để chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, quy định tại Luật nghĩa vụ quân sự như sau:

“Điều 46. Gọi nhập ngũ khi có lệnh động viên

Khi có lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, việc gọi nhập ngũ thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.”

Hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ đối với quân nhân dự bị cũng tương tự như hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự, chỉ khác nhau ở tư cách chủ thể. Đối với người là quân nhân dự bị không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ khác với người trốn tránh nghĩa vụ quân sự ở chỗ là người trốn tránh nghĩa vụ quân sự bao gồm cả người chưa đăng ký nghĩa vụ quân sự, chưa khám sức khoẻ, còn quân nhân dự bị là người đã đủ điều kiện để nhập ngũ.

Hậu quả của hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ đối với quân nhân dự bị chủ yếu là hậu quả phi vật chất, nó làm ảnh hưởng đến kế hoạch tuyển quân, đến chính sách thực hiện nghĩa vụ quân sự của Nhà nước. Nếu là trong thời chiến thì hậu quả còn nguy hại hơn nhiều.

Tuy nhiên, hậu quả không phải dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ được coi là hoàn thành kể từ thời điểm hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ trong 04 trường hợp kể trên xảy ra.

Chủ thể

Chủ thể của tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự là người đã được gọi thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Ngoài ra, chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn điều điện là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 18 tuổi trở lên.

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, điều này được thể hiện ngay tên của tội danh, chỉ những người là quân nhân dự bị mới có thể thực hiện hành vi và là chủ thể phạm tội này.

Quân nhân dự bị là quân nhân phục vụ trong ngạch dự bị gồm hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị. Điều 7 Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định, nghĩa vụ phục vụ trong ngạch dự bị như sau:

“Điều 7. Nghĩa vụ phục vụ trong ngạch dự bị

1. Công dân nam trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự có nghĩa vụ phục vụ trong ngạch dự bị bao gồm các trường hợp sau đây:

a) Hết độ tuổi gọi nhập ngũ nhưng chưa phục vụ tại ngũ;

b) Thôi phục vụ tại ngũ;

c) Thôi phục vụ trong Công an nhân dân.

2. Công dân nữ trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự có ngành, nghề chuyên môn phù hợp yêu cầu của Quân đội nhân dân.

Chính phủ quy định ngành, nghề chuyên môn tại khoản này.”

Ngoài ra, chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn điều điện là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 18 tuổi trở lên.

Mặt chủ quan

Người phạm tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự thực hiện hành vi do cố ý, tức là nhận thức rõ hành vi của mình là trốn tránh nghĩa vụ quân sự, gây ảnh hưởng đến kế hoạch tuyển quân, kế hoạch huấn luyện của cơ quan quân sự nhưng vẫn cố tình không thực hiện. Người phạm tội có thể thấy trước hậu quả của hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự, nhưng chủ yếu là bỏ mặc cho hậu quả xẩy ra.

Người phạm tội có thể có nhiều động cơ khác nhau, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện của xã hội và của gia đình người phạm tội. Ví dụ: Trong thời chiến, người phạm tội vì sợ chết, trong thời bình vì sợ gian khổ, có người vì sợ đi bộ đội  người yêu sẽ đi lấy chồng, có người vì sợ gia đình khó khăn.v.v... Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tuy nhiên, việc xác định động cơ có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt.

Cũng như đối với người phạm tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự, người phạm tội “không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ” thực hiện hành vi do cố ý, tức là nhận thức rõ hành vi của mình là không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, gây ảnh hưởng đến kế hoạch động viên quân dự bị tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội nhưng vẫn có tình không thực hiện. Người phạm tội cũng có thể thấy trước hậu quả của hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, nhưng chủ yếu là bỏ mặc cho hậu quả xẩy ra.

Động cơ phạm tội của người phạm tội cũng khác nhau, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện của xã hội và của gia đình người phạm tội như: vì sợ chết, sợ gian khổ, sợ gia đình sẽ gặp khó khăn.v.v... Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tuy nhiên, việc xác định động cơ có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt.

Hình phạt

Điều 332 Bộ luật Hình sự quy định 02 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình;

b) Phạm tội trong thời chiến;

c) Lôi kéo người khác phạm tội.

Điều 333 Bộ luật Hình sự quy định 02 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Người nào là quân nhân dự bị mà không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ trong trường hợp có lệnh tổng động viên, lệnh động viên cục bộ, có chiến tranh hoặc có nhu cầu tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội để chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình;

b) Lôi kéo người khác phạm tội.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Bộ luật Hình sự

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội chống người thi hành công vụ là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/09/2021

Tội chống người thi hành công vụ quy định tại Điều 330 BLHS.

Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/09/2021

Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự quy định tại Điều 332 BLHS.

Tại sao cần phải có sự tham gia tố tụng của người đại diện, nhà trường, tổ chức đối với người dưới 18 tuổi?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/09/2021

Bài viết trình bày về việc tham gia tố tụng của người đại diện, nhà trường, tổ chức của người dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật.

Lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng; hỏi cung bị can; đối chất người dưới 18 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/09/2021

Bài viết trình bày về việc lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng; hỏi cung bị can; đối chất là người dưới 18 tuổi.

Việc giám sát đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/09/2021

Bài viết trình bày về việc giám sát đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi theo pháp luật hiện hành.

Quyền được bào chữa đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/09/2021

Bài viết trình bày về quyền được bào chữa đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi.

Cách xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/09/2021

Bài viết trình bày về xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi theo pháp luật hiện hành.

Áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi khi nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/09/2021

Bài viết trình bày về áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi.