So sánh tội vi phạm quy định về quản lý nhà ở và tội xâm phạm chỗ ở của người khác?

Nội dung

Tội vi phạm các quy định về quản lý nhà ở

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác

Căn cứ pháp lý

Điều 343 Bộ luật Hình sự

Điều 158 Bộ luật Hình sự

Khách thể

Khách thể của tội phạm này là trật tự quản lý hành chính về nhà ở của Nhà nước.

Các quy định của Nhà nước về quản lý nhà thì có nhiều nhưng người phạm tội chỉ xâm phạm đến các quy định về chỗ ở, về xây dựng nhà ở, còn các quy định khác về nhà không phải là nhà ở thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của tội phạm này.

Khách thể của tội phạm là quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của con người và những quy định của pháp luật về khám xét chỗ ở tại Bộ luật Tố tụng Hình sự cũng như trật tự, an toàn xã hội.

Mặt khách quan

Hành vi khách quan của tội phạm bao gồm 02 hành vi: chiếm dụng chỗ ở trái phép hoặc hành vi xây dựng nhà ở trái phép.

Chiếm dụng chỗ ở trái phép là hành vi lén lút hoặc ngang nhiên vào chỗ ở của người khác và sử dụng như chỗ ở của mình như: vào ở nhà vắng chủ không được phép của chủ nhà hoặc của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (nhảy dù). Hoặc cũng có thể là hành vi dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực đuổi người khác ra khỏi nhà rồi vào nhà đó để ở; lừa dối chủ nhà để chủ nhà ra khỏi nhà rồi vào nhà đó để ở; lợi dụng lúc chủ nhà đi vắng, dọn đồ đạc của chủ nhà ra khỏi nhà rồi dọn đò của mình vào nhà đó ở...

Chiếm dụng là chiếm và sử dụng như là của mình. Nều chỉ chiếm mà không sử dụng thì không thuộc trường hợp vi phạm quy định về quản lý nhà mà tuỳ trường hợp họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “xâm phạm chỗ ở của người khác” theo quy định tại Điều 158 Bộ luật Hình sự.

Chỗ ở được hiểu là nơi con người sinh sống, sinh hoạt hàng ngày, bao gồm: nhà ở và các công trình phụ như: bếp, nhà vệ sinh, nhà tắm…; chỗ ở còn là những nơi ở thường xuyên của một người, một gia đình mà đó được coi như là nhà ở như: Tầu, thuyền, giường ngủ trong khu ký túc xá sinh viên...

Xây dựng nhà ở trái phép là hành vi làm nhà ở mà không có giấy phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc không đúng với giấy phép trong trường hợp Nhà nước quy định việc làm nhà ở phải có giấy phép. Việc xây dựng nhà ở trái phép chỉ có thể xảy ra trong trường hợp Nhà nước quy định việc xây dựng nhà ở phải xin phép, còn đối với những nơi việc làm nhà của người dân không cần phải xin phép thì không xảy ra hành vi này.

Xây dựng nhà ở trái phép còn bao gồm cả hành vi sửa chữa nhà đang được sử dụng vào mục đích khác thành nhà ở không được phép như: Sửa văn phòng làm việc, trường học, trụ sở cơ quan thành nhà ở; sửa đình, chùa, miếu, nhà thờ thành nhà ở...

Hậu quả của tội phạm không phải dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, người thực hiện hành vi khách quan của bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về quản lý nhà ở khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Trường hợp người thực hiện hành vi vi phạm quản lý về nhà ở lần đầu, tuy không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vẫn bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kĩ thuật; kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kĩ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở.

Khám xét chỗ ở được quy định tại 02 văn bản pháp luật: trong Bộ luật Tố tụng Hình sự tại các Điều 192, 193, 195 và Luật Xử lý vi phạm hành chính Điều 129

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở hành vi khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác, đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ; chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ; xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác.

Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác là khám xét mà không được pháp luật cho phép như: không có lệnh khám xét chỗ ở, tuy có lệnh nhưng lệnh đó không hợp pháp hoặc khi thực hiện việc khám không đúng thủ tục... Muốn biết trường hợp nào là khám xét chỗ ở trái phép thì phải căn cứ vào các quy định của pháp luật về trường hợp được khám chỗ ở. Việc khám xét chỗ ở có liên quan đến hành vi phạm tội được tiến hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, còn việc khám chỗ ở có liên quan đến hành vi vi phạm hành chính được tiễn hành theo Luật Xử phạt vi phạm hành chính.

Đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ là hành vi dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực hoặc bằng những thủ đoạn khác nhằm buộc người khác ra khỏi chỗ họ đang ở. Hành vi đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ thường do những người không có chức vụ, quyền hạn thực hiện như: Chủ nợ xiết nợ, tranh chấp thừa kế, tranh chấp trong trong quan hệ thuê nhà, muợn nhà... Tuy nhiên, cũng có trường hợp người thực hiện hành vi đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ lại do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện, trong trường hợp này chủ yếu do những người thực hiện công vụ trái pháp luật như: Cán bộ thi hành án, cán bộ thi hành quyết định hành chính gây ra.

Hành vi đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ được coi là hoàn thành khi người bị đuổi buộc phải ra khỏi nhà, không kể thời gian là bao nhiều, đối với một người hay tất cả gia đình họ, không kể sau khi bị đuổi họ không được trở lại hay được trở lại chỗ ở trước đó bị đuổi.

Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ là hành vi dùng mọi thủ đoạn trái pháp luật nhằm chiếm, giữ chỗ ở hoặc cản trở trái phép, không cho người đang ở được vào chỗ ở của họ. Mọi thủ đoạn ở đây có thể là lừa đảo, đe dọa, dùng vũ lực để họ không thể vào chỗ ở của mình.

Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác là hành vi tự ý ra vào chỗ ở của người khác mà không được sự đồng ý của chủ nhà hoặc người quản lý hợp pháp của chỗ ở đó. Ví dụ: người phạm tội đã tự tiện phá khóa vào ở nhà anh A trong khi anh A đi công tác.

Khi xem xét những hành vi khách quan của tội này cần chú ý phân biệt với những hành vi khách quan khác để giúp cho việc định tội được chính xác:

Hậu quả của tội xâm phạm chỗ ở của công dân là làm cho người khác bị mất chỗ ở, bị ảnh hưởng đến cuộc sống, đến sinh hoạt bình thường của công dân và các thành viên trong gia đình họ hoặc gây ra những thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho người bị hại.

Thời điểm hoàn thành của tội phạm này là kể từ khi quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân bị thiết hại, không kẻ mức độ gây thiệt hại nhiều hay ít.

Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này không phải chủ thể đặc biệt. Bất kì ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm. Họ có thể là người Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không quốc tịch.

Ngoài ra, chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn điều điện là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.

Nói chung chủ thể của tội phạm này là bất kỳ, nhưng trong một số trường hợp người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn nhất định như Bộ đội Biên phòng; Cán bộ kiểm lâm; Cán bộ, chiến sỹ trong các lực lượng vũ trang; Cán bộ, nhân viên Công an nhân dân... Đối với những người này, thông thường phạm tội trong khi thi hành công vụ, cá biệt có trường hợp vì động cơ cá nhân mà xâm phạm chỗ ở của công dân.

Ngoài ra, chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn điều điện là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.

Mặt chủ quan

Đối với tội phạm này, người phạm tội thực hiện hành vi của mình là do cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Tức là người phạm tội nhận thức được hành vi của minh là chiếm dụng chỗ ở của người khác hoặc hành vi của mình là hành vi xây dựng nhà trái phép, mặc dù đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội phạm này, nhưng vẫn cố tình vi phạm. Việc nhà làm luật quy định dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội phạm này mà còn vi phạm” là thể hiện sự cố ý của người phạm tội rồi.

Tội xâm phạm chỗ ở của công dân được thực hiện do cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp Tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xẩy ra.

Mục đích của người phạm tội là mong muốn xâm phạm được chỗ ở của người khác. Tuy nhiên, mức độ có khác nhau, có người chỉ mong khám chỗ ở của người khác, có người mong đuổi được người khác ra khỏi chỗ ở, có người mong lấn chiếm được được một phần chỗ ở của người khác.v.v...

Hình phạt

Điều 343 Bộ luật Hình sự quy định 02 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Người nào chiếm dụng chỗ ở, xây dựng nhà trái phép, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Nhà ở, công trình xây dựng trái phép có thể bị dỡ bỏ, trưng mua hoặc tịch thu.

- Khung hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Điều 158 Bộ luật Hình sự quy định 03 khung hình phạt như sau:

- Khung hình phạt phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm đối với người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm chỗ ở của người khác gồm:

a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác;

b) Đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ;

c) Chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ;

d) Xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của người khác.

- Khung hình phạt phạt tù từ 01 năm đến 05 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Hình phạt bổ sung này chỉ có thể áp dụng đối với trường hợp người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn. Đối với người không có chức vụ, quyền hạn, kể cả tòa án có tuyên phạt hình phạt này thì nó cũng không có ý nghĩa đối với người phạm tội.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Bộ luật Hình sự

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy vật hoặc tài liệu bí mật nhà nước là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/09/2021

Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy vật hoặc tài liệu bí mật nhà nước quy định tại Điều 337 BLHS.

So sánh tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước với tội vô ý làm lộ bí mật công tác?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/09/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước với tội vô ý làm lộ bí mật công tác.

Tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước; tội làm mất vật, tài liệu bí mật nhà nước là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/09/2021

Tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước; tội làm mất vật, tài liệu bí mật nhà nước quy định tại Điều 338 BLHS.

Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/09/2021

Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác quy định tại Điều 339 BLHS.

Tội sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/09/2021

Tội sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 340 BLHS.

Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/09/2021

Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức quy định tại điều 341 BLHS

So sánh tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác với tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy vật hoặc tài liệu bí mật nhà nước?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/09/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác với tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy vật hoặc tài liệu bí mật nhà nước

So sánh tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác với tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/09/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác với tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức..