Tội chứa mại dâm là gì?

Căn cứ pháp lý

Điều 327 Chương XXI Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định tội chứa mại dâm như sau:

Điều 327. Tội chứa mại dâm

1. Người nào chứa mại dâm, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Cưỡng bức mại dâm;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Chứa mại dâm 04 người trở lên;

đ) Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;

e) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bán dâm mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

g) Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

b) Thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bán dâm mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Đối với 02 người trở lên từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

b) Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên;

c) Cưỡng bức mại dâm dẫn đến người đó chết hoặc tự sát.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Dấu hiệu pháp lý của tội chứa mại dâm

Khách thể của tội phạm

Chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm.

Tội chứa mại dâm là tội xâm phạm đến đạo đức, thuần phong, mỹ tục, đến đời sống văn hoá, trật tự trị an xã hội.

Như vậy, khách thể của tội phạm là truyền thống văn hóa, đạo đức, lối sống lành mạnh của dân tộc và trật tự công cộng.

Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm gồm 01 hành vi duy nhất là hành vi chứa mại dâm. Hành vi chứa mại dâm được thực hiện với nhiều thủ đoạn khác nhau như: sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện để  thực hiện việc mua dâm, bán dâm.

Chứa mại dâm là chứa việc mua dâm, bán dâm, tức là phải có cả người mua lẫn người bán và hai người phải thực hiện việc giao cấu, bởi lẽ bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác còn mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vận chuyển khác trả cho người bán dâm để được giao cấu. Nếu chỉ chứa người bán dâm (gái mại dâm) còn việc mua, bán dâm được thực hiện ở địa điểm khác không phải là địa điểm người bán dâm ở thì người có hành vi chứa người bán dâm không phạm tội chứa mại dâm; nếu người có địa điểm cho gái mại dâm thuê mà giới thiệu cho người mua dâm thì hành vi “giới thiệu” đó là hành vi môi giới mại dâm.

Địa điểm mà người phạm tội dùng để thực hiện hành vi chứa mại dâm tương đối đa dạng; có thể chỉ là một chiếc thuyền, ghe, một túp lều, một gian phòng trong nhà hàng, quán Cafe, nhà tắm, cabin ô tô,...

Tại những địa điểm mà người phạm tội sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn để thực hiện việc mua dâm, bán dâm còn có những phương tiện, công cụ hỗ trợ việc mại dâm như: Giường, chiếu, chăn màn, khăn lau, thuốc kích dục,...

Trường hợp cung cấp các phương tiện tránh thai như: Bao cao su, thuốc tránh thai cho người bán dâm thì cần phải phân biệt: nếu biết có việc mại dâm mà cung cấp thì mới bị coi là chứa mại dâm, nếu biết là gái bán dâm mà cung cấp thuốc tránh thai hoặc bao cao su còn việc thực hiện hành vi mại dâm ở đâu vào lúc nào người cung cấp bao cao su không biết thì không bị coi là chứa mại dâm.

Trường hợp dùng tiền thuê địa điểm, trả tiền cho người bán dâm nhưng để người khác giao cấu với người bán dâm thì cũng coi là hành vi chứa mại dâm.

Trong trường hợp chủ hoặc người quản lý khách sạn, nhà trọ... gọi gái mại dâm đến cho khách để họ mua bán dâm ngay tại khách sạn, nhà trọ... thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của người gọi gái mại dâm thì người đó cũng phải chịu trách nhiệm về tội chứa mại dâm. Tuy nhiên nếu chủ hoặc người quản lý khách sạn, nhà trọ vừa gọi gái bán dâm này đến khách sạn, nhạ trọ nơi họ quản lý cho khác để họ mua bán dâm vừa gọi gái bán dâm tại nơi khác thì người đó phải chịu trách nhiệm cả về tội chứa mại dâm và mô giới mại dâm.

Hậu quả không phải dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm hành vi khách quan xảy ra.

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm không phải chủ thể đặc biệt, bất kì ai cũng có thể là chủ thể của tội phạm này.

Chủ thể của tội phạm phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Bộ luật Hình sự không quy định thế nào là năng lực trách nhiệm hình sự nhưng có quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 21 Bộ luật Hình sự. Theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, người có năng lực trách nhiệm hình sự phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 thuộc Chương XXI Bộ luật hình sự. Như vậy, chủ thể của tội chứa mại dâm phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội chứa mại dâm thực hiện hành vi của mình là do cố ý, tức là người phạm tội biết rõ việc sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện là để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm. Nếu vì một lý do nào đó mà người có hành vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện nhưng không biết người thuê, người mượn thực hiện việc mua dâm, bán dâm thì cũng không phạm tội chứa mại dâm.

Động cơ của người phạm tội chứa mại dâm chủ yếu là do tư lợi hoặc vì động cơ cá nhân khác; động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc để xác định tội phạm. Tuy nhiên, việc xác định động cơ của người phạm tội cũng rất quan trọng có ý nghĩa đến việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội; động cơ càng xấu mức hình phạt sẽ càng nặng và ngược lại.

Hình phạt đối với người phạm tội chứa mại dâm

Điều 327 Bộ luật Hình sự quy định 05 Khung hình phạt đối với cá nhân phạm tội như sau:

- Người nào chứa mại dâm, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Cưỡng bức mại dâm;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Chứa mại dâm 04 người trở lên;

đ) Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;

e) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bán dâm mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

g) Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

h) Tái phạm nguy hiểm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

b) Thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bán dâm mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Đối với 02 người trở lên từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

b) Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên;

c) Cưỡng bức mại dâm dẫn đến người đó chết hoặc tự sát.

- Khung hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Vụ việc thực tế xét xử về tội chứa mại dâm

Bản án số 80/2021/HS-ST ngày 24-6-2021 “V/v xét xử bị cáo Lê Kim Th - phạm tội chứa mại dâm” của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.[1]

Lê Kim Th là chủ nhà nghỉ C thuộc khu phố T, thị trấn GD, huyện  GD, tỉnh TN. Khoảng tháng 10-2020, do muốn lôi kéo khách đến nhà nghỉ của mình để thuê trọ và đồng thời môi giới, chứa mại dâm để thu lợi nên Th đã móc nối thỏa thuận với hai gái bán dâm Trần Thị Ngọc V tiếp viên đang thuê trọ và Trà Kim H1 giúp việc dọn vệ sinh nhà nghỉ là tiền khách mua dâm thì gái bán dâm được hưởng, còn tiền thuê phòng và tiền môi giới do Th hưởng. Th sẽ trực tiếp thỏa thuận với khách giá tiền mỗi lần bán dâm và nhận tiền, rồi sẽ đưa lại cho gái bán dâm. Với cách thức trên, tại nhà nghỉ của Th, Th đã môi giới và chứa cho V bán dâm được 10 lần và H1bán dâm được 01 lần, trong đó:

Lần 1: Khoảng tháng 11-2020, Nguyễn Hoài A có nhu cầu mua dâm nên đến nhà nghỉ C kêu Thắm tìm người bán dâm cho A. Sau khi thỏa thuận mua bán dâm xong, Ađưa cho Th 600.000 đồng, trong đó 500.000 đồng tiền V bán dâm cho A và 100.000 đồng tiền thuê phòng. A và V vào phòng để thực hiện hành vi mua bán dâm. Sau đó, Th đưa lại cho V 500.000 đồng tiền bán dâm.

Lần 2: Khoảng 13 giờ ngày 19-01-2021, A và Nguyễn Trung H có nhu cầu mua dâm nên đến nhà nghỉ C kêu Th tìm người bán dâm cho Avà H. Th bố trí cho A vào phòng số 10, H vào phòng số 05 đợi Th kêu người đến bán dâm. Th đến phòng số 21 kêu V đến phòng số 10 để bán dâm cho A. Khi đến phòng số 10, A đưa cho Th 600.000 đồng thì Th đưa lại cho V 500.000 đồng tiền bán dâm và giữ lại 100.000 đồng tiền thuê phòng. Sau đó, Th đến phòng số 03 kêu H1 đến phòng số 05 bán dâm cho H. Khi đến phòng số 5, H đưa cho Th 650.000 đồng, trong đó 500.000 đồng là tiền H1 bán dâm nhờ Th giữ dùm, 100.000 đồng là tiền thuê phòng, còn 50.000 đồng là Th xin H để bồi dưỡng cho người dọn dẹp phòng.

Đến 14 giờ cùng ngày, Công an huyện Gò Dầu bắt quả tang V đang bán dâm cho A và H1 đang bán dâm cho H.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo do muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ công lao động cực khổ, nên đã thực hiện hành vi phạm tội.

Vì lẽ đó, Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh quyết định:

- Tuyên bố bị cáo Lê Kim Th (T) phạm tội “Chứa mại dâm”.

- Xử phạt bị cáo Lê Kim Th (T) 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Phạt bổ sung bị cáo Lê  Kim  Th  (T) số tiền 30.000.000  (ba mươi triệu) đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Giao bị cáo Lê Kim  Th (T) cho Ủy ban nhân dân thị trấn Gò Dầu, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Bộ luật Hình sự            

Luật Hoàng Anh

 


[1] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta798682t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 26/10/2021.

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội đánh bạc là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/10/2021

Tội đánh bạc quy định tại Điều 321 BLHS

So sánh tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội với tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại chiến lợi phẩm?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/10/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội với tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại chiến lợi phẩm.

Tội rửa tiền là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/10/2021

Tội rửa tiền quy định tại Điều 324 BLHS

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/10/2021

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại Điều 323 BLHS

Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/10/2021

Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy quy định tại Điều 326 BLHS

Tội rửa tiền có điểm gì khác tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/10/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội rửa tiền với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả.

Tội có điểm gì khác tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/10/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy với tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm.

Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/10/2021

Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp quy định tại Điều 325 BLHS