Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp là gì?

1. Căn cứ pháp lý

Điều 214 Chương XVIII Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp như sau:

Điều 214. Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 20.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng mà không thuộc trường hợp quy định tại một trong các điều 174, 353 và 355 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội;

b) Dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

d) Gây thiệt hại từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

2. Dấu hiệu pháp lý của tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

2.1. Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm là trật tự quản lý quỹ phúc lợi xã hội của Nhà nước.

Đối tượng của tội phạm là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nghề nghiệp.

Theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.

Theo quy định tại Luật Việc làm năm 2013, Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.

Gian lận là một thuật ngữ pháp lý rộng dùng để chỉ các hành vi không trung thực cố ý sử dụng sự lừa dối để tước đoạt tiền, tài sản hoặc các quyền hợp pháp của người khác một cách bất hợp pháp. Hành vi gian lận được nhà làm luật miêu tả chi tiết bằng 02 hành vi liệt kê tại Khoản 1 Điều 214 Bộ luật Hình sự:

a) Lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội;

b) Dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.

Hồ sơ bảo hiểm xã hội gồm những tài liệu quy định tại Điều 97 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014:

“Điều 97. Hồ sơ đăng ký tham gia và cấp sổ bảo hiểm xã hội

1. Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội lần đầu bao gồm:

a) Tờ khai tham gia bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động kèm theo danh sách người lao động tham gia bảo hiểm xã hội;

b) Tờ khai tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động.

2. Hồ sơ cấp lại sổ bảo hiểm xã hội trong trường hợp hỏng hoặc mất bao gồm:

a) Đơn đề nghị cấp lại sổ bảo hiểm xã hội của người lao động;

b) Sổ bảo hiểm xã hội trong trường hợp bị hỏng.

3. Chính phủ quy định thủ tục, hồ sơ tham gia, cấp sổ bảo hiểm xã hội đối với đối tượng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật này.”

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm. Người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp hậu quả chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 10.000.000 đồng trở lên hoặc gây thiệt hại từ 20.000.000 đồng trở lên.

Điều 214 cũng loại trừ một số trường hợp trùng với quy định về tội phạm khác của Bộ luật Hình sự như Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Điều 353.Tội tham ô tài sản và Điều 355. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

Các tội quy định tại Điều 174, 353 và 355 đều giống với Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp ở hành vi gian lận, gian dối, lừa đảo.

Trường hợp hậu quả của tội phạm chưa đáng kể theo quy định tại Khoản 1 Điều 214 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi phạm tội tuy không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vẫn phải chịu xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 39 Nghị định 28/2020/NĐ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng:

Điều 39. Vi phạm quy định về lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người lao động có một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa làm sai sự thật những nội dung có liên quan đến việc hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

b) Không thông báo với Trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định khi người lao động có việc làm trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp;

c) Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp không thông báo theo quy định với Trung tâm dịch vụ việc làm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: có việc làm; thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; hưởng lương hưu hằng tháng; đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên.

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi làm giả, làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp để trục lợi chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mỗi hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp làm giả, làm sai lệch nội dung.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả

Buộc nộp lại cho tổ chức bảo hiểm xã hội số tiền bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp đã nhận do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2 Điều này.”

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm chỉ có thể là người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và phải đủ 16 tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự như sau:

Bộ luật Hình sự không quy định thế nào là năng lực trách nhiệm hình sự nhưng có quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 21 Bộ luật Hình sự. Theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, người có năng lực trách nhiệm hình sự phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều nhưng không có điều nào thuộc Chương XVIII Bộ luật hình sự. Như vậy chủ thể của tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

Chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân thực hiện tội phạm một mình nhưng cũng có thể là nhiều người cùng thực hiện tội phạm. Trường hợp nhiều người thực hiện cùng một tội phạm được quy định theo Điều 17 Bộ luật Hình sự:

“Điều 17. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.”

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Tức là người phạm tội hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là hành vi không được phép nhưng vẫn muốn thực hiện hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc dù không mong muốn nhưng vẫn có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

Động cơ và mục đích không phải dấu hiệu bắt buộc của tội phạm. Thông thường người phạm tội này đều vì vụ lợi.

3. Hình phạt đối với người phạm tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

Điều 214 Bộ luật Hình sự quy định 04 Khung hình phạt đối cá nhân phạm tội như sau:

- Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 20.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng mà không thuộc trường hợp quy định tại một trong các điều 174, 353 và 355 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội;

b) Dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

d) Gây thiệt hại từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên.

- Khung hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Vụ án thực tế xét xử về tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

Bản án số 07/2020/HS-ST ngày 28/4/2020 “V/v xét xử bị cáo Nguyễn Văn M, Võ Thị H phạm tội gian lận Bảo hiểm xã hội” của Tòa án nhân dân huyện M'Drăk, tỉnh Đắk Lắk.[1]

Từ năm 1989 đến năm 2007, Nguyễn Văn M là Giám đốc Nông trường cà phê A (nay là Công ty TNHH MTV Cà phê A) đóng tại xã E, huyện M3, tỉnh Đắk Lắk đã trực tiếp đứng tên nhận khoán một số diện tích đất của Nông trường để gia đình canh tác.

Vào khoảng cuối năm 2004, vì muốn vợ mình là Võ Thị H được hưởng chế độ hưu trí, mặc dù Võ Thị H không phải là công nhân của Nông trường và cũng không tham gia đóng bảo hiểm xã hội theo quy định hiện hành, Nguyễn Văn M đã nói cấp dưới của mình làm hồ sơ và kê khai khống quá trình công tác và đóng bảo hiểm xã hội củaVõ Thị H.

Để thực hiện việc  này Nguyễn Văn M có trao đổi trực tiếp với ông Hoàng Đ2 là Trưởng phòng Tổ chức hành chính và ông Bùi Hữu B (đã chết) là nhân viên phòng Tổ chức hành chính, kiêm lái xe của Nông trường cà phê A lúc bấy giờ. Vì biết rằng việc làm này là vi phạm pháp luật và không thực hiện được nên ông Đ2 đã nói với Nguyễn Văn M là “Việc này tày đình lắm, bác đừng có làm”, tuy nhiên Nguyễn Văn M không nghe theo mà nói ông Bùi Hữu B làm hồ sơ cho Võ Thị H là công nhân của Nông trường từ năm 1982 đến thời điểm làm hồ sơ (năm 2004).

Trong quá trình làm hồ sơ để Võ Thị H hưởng chế độ hưu trí hàng tháng thì ông B đã trực tiếp liên hệ với Bảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk, việc ông B liên hệ với ai và liên hệ như thế nào thì ông M không biết. Ngoài ra, bị cáo M khai có đưa 12.500.000 đồng cho ông B để đóng bảo hiểm thì ông B mới làm được hồ sơ hưởng chế độ hưu trí cho bị cáo H.

Trong quá trình làm hồ sơ, Nguyễn Văn M đã nói với Võ Thị H “Tôi làm cho bà cái sổ hưu”, biết rõ mình không phải là công nhân của Nông trường cà phê A nhưng Võ Thị H không phản đối. Khi Võ Thị H được ông Bùi Hữu B gọi đến Nông trường để ký tên vào các văn bản, hồ sơ thủ tục làm sổ hưu trí thì Võ Thị H đã đến ký.

Sau khi hoàn thiện thủ tục, ông B đưa hồ sơ của Võ Thị H cùng những người khác (cùng đợt làm sổ hưu trí) cho ông Nguyễn Công H1 Phó giám đốc Nông trường cà phê A ký duyệt. Thấy trong hồ sơ đã đủ nên ông H1 đã ký duyệt tại bản xác nhận quá trình tham gia Bảo hiểm xã hội và Quyết định nghỉ việc để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đối với Võ Thị H và đưa hồ sơ của Võ Thị H cùng các hồ sơ khác cho Nguyễn Văn M ký duyệt, sau đó chuyển đến Bảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk để làm thủ tục hưởng lương hưu. Khi có quyết định hưởng chế độ hưu trí hàng tháng thì hồ sơ của Võ Thị H được chuyển về Bảo hiểm xã hội huyện Đ1, tỉnh Nghệ An để hưởng chế độ hưu trí nhằm tránh bị phát hiện. Từ tháng 6 năm 2005 đến tháng 10 năm 2018,Võ Thị H đã nhận được tổng số tiền 399.886.100 đồng tiền hưởng chế độ hưu trí.

Hành vi trên của các bị cáo Nguyễn Văn M, Võ Thị H phạm tội gian lận Bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 214 Bộ luật Hình sự.

Vì lẽ trên, Tòa án nhân dân huyện M'Drăk, tỉnh Đắk Lắk quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn M, Võ Thị H phạm tội “Gian lận bảo hiểm xã hội”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 03(Ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/4/2020.

Xử phạt bị cáo Võ Thị H 02 (Hai) năm 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/4/2020.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Bộ luật Hình sự

Luật Hoàng Anh

 


[1] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta498715t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 01/10/2021.a

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Thời hiệu khiếu nại là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 02/10/2021

Bài viết trình bày về thời hiệu khiếu nại theo quy định của BLTTHS 2015.

Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 02/10/2021

Bài viết trình bày về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại.

Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 02/10/2021

Bài viết trình bày về quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại.

Thẩm quyền; thời hạn giải quyết khiếu nại trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam?

Hỏi đáp luật Hình Sự 02/10/2021

Bài viết trình bày về thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật.

Thẩm quyền; thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Phó Thủ trưởng và Thủ trưởng Cơ quan điều tra?

Hỏi đáp luật Hình Sự 02/10/2021

Bài viết trình bày về thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Phó Thủ trưởng và Thủ trưởng Cơ quan điều tra, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Thẩm quyền; thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng và Viện trưởng Viện kiểm sát?

Hỏi đáp luật Hình Sự 02/10/2021

Bài viết trình bày về thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng và Viện trưởng Viện kiểm sát.

So sánh tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp với tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm?

Hỏi đáp luật Hình Sự 02/10/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp với tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm.

So sánh tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp với tội gian lận bảo hiểm y tế?

Hỏi đáp luật Hình Sự 02/10/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp với tội gian lận bảo hiểm y tế.