Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ là gì?

1. Căn cứ pháp lý

Điều 333 Chương XXII Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ như sau:

Điều 333. Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ

1. Người nào là quân nhân dự bị mà không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ trong trường hợp có lệnh tổng động viên, lệnh động viên cục bộ, có chiến tranh hoặc có nhu cầu tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội để chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình;

b) Lôi kéo người khác phạm tội.

2. Dấu hiệu pháp lý của tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ

Không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ là hành vi của người là quân nhân dự bị mà không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ trong trường hợp có lệnh tổng động viên, lệnh động viên cục bộ, có chiến tranh hoặc có nhu cầu tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội để chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

2.1. Khách thể của tội phạm

Cũng giống với tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự, khách thể của tội phạm này là chính sách (chế độ) nghĩa vụ quân sự của Nhà nước; xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan hành chính Nhà nước, trong đó có các cơ quan quân sự địa phương về việc gọi quân nhân dự bị nhập ngũ.

Các quy định về việc gọi quân nhân dự bị nhập ngũ được quy định rất cụ thể trong Luật nghĩa vụ quân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật nghĩa vụ quân sự. Vì vậy, khi xác định hành vi không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ nhất thiết phải căn cứ vào các quy định của pháp luật về việc gọi quân nhân dự bị nhập ngũ.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ trong trường hợp có lệnh tổng động viên, lệnh động viên cục bộ, có chiến tranh hoặc có nhu cầu tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội để chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ và không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, về bản chất không có gì khác nhau. Quân nhân dự bị không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ thực chất là hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự.

Không chấp hành có thể là không hành động, nhưng cũng có thể là hành động. Người phạm tội không chấp hành có thể là đã nhận được lệnh gọi nhập ngũ nhưng không đến nơi nhập ngũ (nơi giao quân), nhưng cũng có thể là họ bỏ địa phương đi nơi khác trước ngày nhập ngũ hoặc biết trước có chủ trương gọi quân nhân dự bị nhập ngũ họ đã bỏ đi địa phương khác để tránh việc bị gọi nhập ngũ; có trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ bằng cách tự gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của mình để không phải nhập ngũ.

Hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ bị coi là phạm tội trong 04 trường hợp có lệnh tổng động viên, lệnh động viên cục bộ, có chiến tranh hoặc có nhu cầu tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội để chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, quy định tại Luật nghĩa vụ quân sự như sau:

“Điều 46. Gọi nhập ngũ khi có lệnh động viên

Khi có lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, việc gọi nhập ngũ thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.”

Hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ đối với quân nhân dự bị cũng tương tự như hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự, chỉ khác nhau ở tư cách chủ thể. Đối với người là quân nhân dự bị không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ khác với người trốn tránh nghĩa vụ quân sự ở chỗ là người trốn tránh nghĩa vụ quân sự bao gồm cả người chưa đăng ký nghĩa vụ quân sự, chưa khám sức khoẻ, còn quân nhân dự bị là người đã đủ điều kiện để nhập ngũ.

Hậu quả của hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ đối với quân nhân dự bị chủ yếu là hậu quả phi vật chất, nó làm ảnh hưởng đến kế hoạch tuyển quân, đến chính sách thực hiện nghĩa vụ quân sự của Nhà nước. Nếu là trong thời chiến thì hậu quả còn nguy hại hơn nhiều.

Tuy nhiên, hậu quả không phải dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ được coi là hoàn thành kể từ thời điểm hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ trong 04 trường hợp kể trên xảy ra.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, điều này được thể hiện ngay tên của tội danh, chỉ những người là quân nhân dự bị mới có thể thực hiện hành vi và là chủ thể phạm tội này.

Quân nhân dự bị là quân nhân phục vụ trong ngạch dự bị gồm hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị. Điều 7 Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định, nghĩa vụ phục vụ trong ngạch dự bị như sau:

“Điều 7. Nghĩa vụ phục vụ trong ngạch dự bị

1. Công dân nam trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự có nghĩa vụ phục vụ trong ngạch dự bị bao gồm các trường hợp sau đây:

a) Hết độ tuổi gọi nhập ngũ nhưng chưa phục vụ tại ngũ;

b) Thôi phục vụ tại ngũ;

c) Thôi phục vụ trong Công an nhân dân.

2. Công dân nữ trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự có ngành, nghề chuyên môn phù hợp yêu cầu của Quân đội nhân dân.

Chính phủ quy định ngành, nghề chuyên môn tại khoản này.”

Ngoài ra, chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn điều điện là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 18 tuổi trở lên.

Bộ luật Hình sự không quy định thế nào là năng lực trách nhiệm hình sự nhưng có quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 21 Bộ luật Hình sự. Theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, người có năng lực trách nhiệm hình sự phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều nhưng không có điều nào thuộc Chương XXII Bộ luật hình sự. Theo Luật nghĩa vụ quân sự 2015, Công dân nam giới đủ 18 tuổi được gọi nhập ngũ; lứa tuổi gọi nhập ngũ từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi. Như vậy chủ thể của tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ là người từ đủ 18 tuổi trở lên.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Cũng như đối với người phạm tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự, người phạm tội “không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ” thực hiện hành vi do cố ý, tức là nhận thức rõ hành vi của mình là không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, gây ảnh hưởng đến kế hoạch động viên quân dự bị tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội nhưng vẫn có tình không thực hiện. Người phạm tội cũng có thể thấy trước hậu quả của hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, nhưng chủ yếu là bỏ mặc cho hậu quả xẩy ra.

Động cơ phạm tội của người phạm tội cũng khác nhau, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện của xã hội và của gia đình người phạm tội như: vì sợ chết, sợ gian khổ, sợ gia đình sẽ gặp khó khăn.v.v... Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tuy nhiên, việc xác định động cơ có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt.

3. Hình phạt đối với người phạm tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ

Điều 333 Bộ luật Hình sự quy định 02 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Người nào là quân nhân dự bị mà không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ trong trường hợp có lệnh tổng động viên, lệnh động viên cục bộ, có chiến tranh hoặc có nhu cầu tăng cường cho lực lượng thường trực của quân đội để chiến đấu bảo vệ địa phương, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình;

b) Lôi kéo người khác phạm tội.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Bộ luật Hình sự

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Cách xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/09/2021

Bài viết trình bày về xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi theo pháp luật hiện hành.

Áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi khi nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/09/2021

Bài viết trình bày về áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi.

So sánh tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự với tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/09/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự với tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ.

Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/09/2021

Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự quy định tại Điều 335 BLHS.

So sánh tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ với tội đào ngũ?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/09/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ với tội đào ngũ.

So sánh tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự với tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/09/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự với tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự.

So sánh tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự với tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/09/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự với tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/09/2021

Tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự quy định tại Điều 334 BLHS.