Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật hiện hành là gì?

1. Căn cứ pháp lý

Điều 258 thuộc Chương XX Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định về tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy như sau:

“Điều 258. Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Vì động cơ đê hèn hoặc vì tư lợi;

d) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

đ) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

e) Đối với 02 người trở lên;

g) Đối với người đang cai nghiện;

h) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

c) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội trong trường hợp gây chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.”

2. Dấu hiệu pháp lý của tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy

2.1. Khách thể của tội phạm

Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi nào rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

Theo Điều 5 Luật Phòng, chống ma tuý số 73/2021/QH14 của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 30/3/2021, có hiệu lực từ ngày 01/01/2022, quy định các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó:

“Điều 5. Các hành vi bị nghiêm cấm

...

5. Sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy; chứa chấp, hỗ trợ việc sử dụng trái phép chất ma túy....”

Đối tượng tác động của tội phạm này chính là người sử dụng ma tuý, nếu không có người sử dụng chất ma tuý thì không thể có người phạm tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, người sử dụng chất ma tuý lại không phải là người bị hại mà ngược lại trong một số trường hợp nếu thoả mãn các dấu hiệu của tội sử dụng trái phép chất ma tuý thì họ còn là người phạm tội.

Khách thể của tội “lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” là chế độ quản lý của Nhà nước về việc sử dụng chất ma tuý vào các mục đích chữa bệnh và vì vậy, quan hệ xã hội bị xâm phạm còn bao gồm cả tính mạng, sức khoẻ, trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, chủ yếu vẫn là chế độ quản lý về việc sử dụng chất ma tuý.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

Khi xác định hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý cần phân biệt với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý mà người phạm tội cũng có hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý.

Hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cũng dùng những thủ đoạn mua chuộc, rủ rê, dụ dỗ, xúi dục người khác để họ sử dụng ma tuý, chỉ khác nhau ở chỗ:

- Người phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý ngoài hành vi lôi kéo người sử dụng trái phép chất ma tuý còn có hành vi đưa chất ma tuý vào cơ thể của người sử dụng ma tuý hoặc tìm kiếm người sử dụng trái phép chất ma tuý cho người tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý để người tổ chức đưa chất ma tuý vào cơ thể của người sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Người phạm tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý chỉ có hành vi lôi kéo, còn việc đưa chất ma tuý vào cơ thể của người bị cưỡng bức, bị lôi kéo là do tự người sử dụng ma tuý thực hiện.

Hậu quả của hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là những thiệt hại cho xã hội, trong đó trực tiếp gây ra những thiệt hại về trật tự an toàn xã hội, tính mạng, sức khoẻ của chính người sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, hậu quả của tội phạm này không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Bộ luật Hình sự không quy định thế nào là năng lực trách nhiệm hình sự nhưng có quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 21 Bộ luật Hình sự. Theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, người có năng lực trách nhiệm hình sự phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy). Như vậy tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 258 Bộ luật Hình sự có chủ thể thực hiện tội phạm phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

Chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân thực hiện tội phạm một mình nhưng cũng có thể là nhiều người cùng thực hiện tội phạm. Trường hợp nhiều người thực hiện cùng một tội phạm được quy định theo Điều 17 Bộ luật Hình sự:

“Điều 17. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.”

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy thực hiện hành vi phạm tội của mình do lỗi cố ý trực tiếp, tức là nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện.

Mục đích của người phạm tội là dấu hiệu bắt buộc, tức là người phạm tội mong muốn người khác sử dung ma túy trái phép với nhiều động cơ khác nhau có thể vì .

3. Hình phạt đối với người phạm tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy

Điều 258 Bộ luật Hình sự quy định 05 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Người nào rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như các trường hợp phạm tội có tổ chức khác.

Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy có tổ chức là trường hợp có nhiều người cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, vạch kế hoạch để thực hiện hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu, là một hình thức đồng phạm, có sự phân công, sắp đặt vai trò của những người tham gia, trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu.

Những người đồng phạm khác như: Người tổ chức, người thực hành, người xúi dục, người giúp sức cũng tương tự với trường hợp phạm tội có tổ chức khác, chỉ khác ở chỗ tội phạm được thực hiện trong trường hợp này là hành vi cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy; người thực hành trong vụ án cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy là người trực tiếp thực hiện hành vi cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý.

 Phạm tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy có tổ chức, có thể có tất cả những người đồng phạm, nhưng cũng có thể chỉ có người tổ chức và người thực hành. Nhưng nhất thiết phải có người thực hành và người tổ chức, nếu thiếu một trong hai người này thì không bị coi là phạm tội có tổ chức.

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy 02 lần trở lên là đã có tất cả hai lần lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy trở lên mà mỗi lần phạm tội đều có đầy đủ yếu tố cấu thành tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời trong số các lần lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

c) Vì động cơ đê hèn hoặc vì tư lợi;

Phạm tội vì đồng cơ đê hèn là trường hợp người phạm tội thực hiện tội phạm với động cơ rất xấu xa, thấp hèn, đáng khinh bỉ, không kể gì đến danh dự, nhân phẩm tư cách của một con người. Động cơ của bị cáo mang tính hèn nhát, bội bạc, phản trắc, ích kỷ. Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy vì động cơ đê hèn là trường hợp vì sự ích kỷ, phản trắc, bội bạc, xấu xa, hèn nhát mà lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

d) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi (chưa đủ 18 tuổi), do đó người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18

Việc xác định tuổi của người bị cưỡng ép sử dụng trái phép chất ma tuý không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người phạm tội mà căn cứ vào tuổi thật của người chưa thành niên. Đây không phải là tình tiết thuộc mặt chủ quan nên dù người phạm tội có nói rằng họ không biết người sử dụng trái phép là người chưa thành niên thì cũng không vì thế mà cho rằng không thuộc trường hợp phạm tội này.

Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 6 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH quy định cách xác định tuổi của nạn nhân dưới 18 tuổi như sau:

Việc xác định tuổi của người bị hại dưới 18 tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau:

+ Giấy chứng sinh;

+ Giấy khai sinh;

+  Chứng minh nhân dân;

+ Thẻ căn cước công dân;

+ Sổ hộ khẩu;

+ Hộ chiếu.

Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định:

+ Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.

+ Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.

+ Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.

+ Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.

đ) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

Nếu người phụ nữ bị bị lôi kéo sử dụng trái phép chất ma tuý có thai thật, nhưng có căn cứ để xác định người phạm tội không biết họ đang có thai thì cũng không thuộc trường hợp phạm tội đối với phụ nữ mà biết là có thai.

Ngược lại, trong trường hợp người phụ nữ sử dụng trái phép không có thai, nhưng người phạm tội tin lầm là có thai nên vẫn lôi kéo họ sử dụng trái phép chất ma tuý thì vẫn bị coi là phạm tội đối với phụ nữ mà biết là có thai.

e) Đối với 02 người trở lên;

Lôi kéo 02 người sử dụng trái phép chất ma túy trở lên là trường hợp một lần lôi kéo hai người trở lên sử dụng trái phép chất ma tuý.

g) Đối với người đang cai nghiện;

Người đang cai nghiện là người nghiện ma tuý bắt đầu cai nghiện và chưa kết thúc thời gian cai nghiện, nếu người nghiện ma tuý đã có quyết định của cơ quan có thẩm quyền đưa vào trung tâm cai nghiện nhưng vì lý do khách quan nên chưa vào trung tâm cai nghiện mà lôi kéo họ sử dụng trái phép chất ma tuý thì không thuộc trường hợp phạm tội đối với người đang cai nghiện.

h) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

Căn cứ để đánh giá mức độ thương tích, mức độ rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân là kết quả giám định pháp y theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

Được coi là bệnh nguy hiểm là những bệnh không có khả năng cứu chữa, dễ dẫn đến tử vong hoặc tuy không dẫn đến tử vong nhưng cũng ảnh hưởng nghiêm trong đến sức khoẻ suốt đời.

k) Tái phạm nguy hiểm.

Tái phạm nguy hiểm là trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Như vậy lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp tái phạm nguy hiểm là trường trước đây họ đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà đã lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy hoặc trước đây họ đã bị kết án về tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích mà nay lại tiếp tục lôi kéo khác sử dụng trái phép chất ma túy.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ `10 năm đến 15 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

c) Đối với người dưới 13 tuổi.

- Phạm tội trong trường hợp làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 15 đến 20 năm hoặc tù chung thân.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Bộ luật Hình sự

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/07/2021

Bài viết trình bày về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của pháp luật hiện hành.

Trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra?

Hỏi đáp luật Hình Sự 30/07/2021

Bài viết trình bày về trách nhiệm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS 2015

BLTTHS 2015 quy định về thời hạn điều tra như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 31/07/2021

Bài viết trình bày về thời hạn điều tra vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành.

Nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra được hiểu như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 31/07/2021

Bài viết trình bày về các trường hợp nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật hiện hành.

Tại sao cần giải quyết yêu cầu, đề nghị của người tham gia tố tụng?

Hỏi đáp luật Hình Sự 31/07/2021

Bài viết trình bày về nội dung giải quyết yêu cầu, đề nghị của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật hiện hành.

Tại sao cần phải có sự tham dự của người chứng kiến?

Hỏi đáp luật Hình Sự 31/07/2021

Bài viết trình bày quy định về sự tham dự của người chứng kiến trong hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS 2015.

Thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại được quy định như thế nào trong BLTTHS 2015?

Hỏi đáp luật Hình Sự 31/07/2021

Bài viết trình bày về nội dung quy định thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại theo quy định của pháp luật hiện hành.

So sánh Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy?

Hỏi đáp luật Hình Sự 02/08/2021

Trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng có quy định về hành vi lôi kéo người khác sử dụng chất ma túy nhưng pháp luật vẫn quy định riêng biệt tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy tại một điều luật riêng biệt.