Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử là gì?

Căn cứ pháp lý

Điều 286 Chương XXI Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử như sau:

Điều 286. Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử

1. Người nào cố ý phát tán chương trình tin học gây hại cho mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

b) Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

c) Làm lây nhiễm từ 50 phương tiện điện tử đến dưới 200 phương tiện điện tử hoặc hệ thống thông tin có từ 50 người sử dụng đến dưới 200 người sử dụng;

d) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

d) Làm lây nhiễm từ 200 phương tiện điện tử đến dưới 500 phương tiện điện tử hoặc hệ thống thông tin có từ 200 người sử dụng đến dưới 500 người sử dụng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm

a) Đối với hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ quốc phòng, an ninh;

b) Đối với cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng; hệ thống thông tin điều khiển giao thông;

c) Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên;

d) Gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên;

đ) Làm lây nhiễm 500 phương tiện điện tử trở lên hoặc hệ thống thông tin có từ 500 người sử dụng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Dấu hiệu pháp lý của tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử

Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về lĩnh vữ công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông.

Đối tượng tác động của tội phạm là chương trình tin học gây hại.

Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi phát tán chương trình tin học gây hại cho mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử.

Đây cũng là hành vi tấn công mạng được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 19 Luật An ninh mạng năm 2018.

Tấn công mạng là hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin hoặc phương tiện điện tử để phá hoại, gây gián đoạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử.

Pháp tán chương trình tin học gây hại cho mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử bao gồm những hành vi sau:

- Tạo ra và cố ý lan truyền, phát tán các chương trình virus qua mạng máy tính;

- Viết ra các chương trình vi rút hoặc lấy các chương trình vi rút có sẵn để lan truyền phát tán hoặc gắn các chương trình vi rút này với với một chương trình hấp dẫn khác ( ví dụ: như các chương trình trò chơi).

- Đem cho hoặc cố ý sao chép các chương trình đãn nhiễm vi rút vào các máy tính khác, thông qua mạng máy tính trong nước hoặc quốc tế (internet), Ví dụ: truyền vi rút macro qua các thư điện tử, virus I love you (virus tình yêu), virus mật mã đỏ…

- Phát tán các chương trình tin học khác có tính năng gây hại mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số,…

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp hậu quả nghiêm trọng xảy ra. Đó là:

a) Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

b) Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

c) Làm lây nhiễm từ 50 phương tiện điện tử đến dưới 200 phương tiện điện tử hoặc hệ thống thông tin có từ 50 người sử dụng đến dưới 200 người sử dụng;

d) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm không phải chủ thể đặc biệt, bất kì ai cũng có thể là chủ thể của tội phạm này.

Chủ thể của tội phạm phải là người từ đủ 14 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Bộ luật Hình sự không quy định thế nào là năng lực trách nhiệm hình sự nhưng có quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 21 Bộ luật Hình sự. Theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, người có năng lực trách nhiệm hình sự phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 thuộc Chương XXI Bộ luật hình sự. Khoản 1,2 Điều 266 quy định tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, còn Khoản 3 Điều này quy định tội phạm rất nghiêm trọng. Như vậy, chủ thể của tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử tại Khoản 1,2 phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên còn chủ thể của tội phạm quy định tại Khoản 3 Điều này là người từ đủ 14 tuổi trở lên.

Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện hành vi khách quan với lỗi cố ý trực tiếp. Tức là người phạm tội hoàn toàn nhận biết được hậu quả nguy hại cho mạng máy tính, mạng viễn thông, thiết bị điện tử nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi để hậu quả của nó xảy ra.

Hình phạt đối với người phạm tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử

Điều 286 Bộ luật Hình sự quy định 04 Khung hình phạt đối với cá nhân phạm tội như sau:

- Người nào sản xuất, mua bán, trao đổi, tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm có tính năng tấn công mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử để sử dụng vào mục đích trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Có tính chất chuyên nghiệp;

d) Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.

- Khung hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Bộ luật Hình sự        

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội đánh bạc là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/10/2021

Tội đánh bạc quy định tại Điều 321 BLHS

Tội rửa tiền là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/10/2021

Tội rửa tiền quy định tại Điều 324 BLHS

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/10/2021

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại Điều 323 BLHS

Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/10/2021

Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy quy định tại Điều 326 BLHS

Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 25/10/2021

Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp quy định tại Điều 325 BLHS

Tội chứa mại dâm là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 28/10/2021

Tội chứa mại dâm quy định tại Điều 327 BLHS

Tội cản trở hoạt động của mạng máy tính có điểm gì khác tội sản xuất, mua bán công cụ để sử dụng vào mục đích trái pháp luật?

Hỏi đáp luật Hình Sự 28/10/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội cản trở hoạt động của mạng máy tính với tội sản xuất, mua bán công cụ để sử dụng vào mục đích trái pháp luật.

So sánh tội chứa mại dâm với tội môi giới mại dâm?

Hỏi đáp luật Hình Sự 28/10/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội chứa mại dâm với tội môi giới mại dâm.