Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định pháp luật hiện hành là gì?

1. Căn cứ pháp lý

Điều 255 thuộc Chương XX Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như sau:

“Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

d) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

đ) Đối với người đang cai nghiện;

e) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

d) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

b) Làm chết 02 người trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

2. Dấu hiệu nhận biết của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

2.1. Khách thể của tội phạm

Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi giúp người khác sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào.

Theo Điều 5 Luật Phòng, chống ma tuý số 73/2021/QH14 của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 30/3/2021, có hiệu lực từ ngày 01/01/2022, quy định các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó:

“Điều 5. Các hành vi bị nghiêm cấm

...

5. Sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy; chứa chấp, hỗ trợ việc sử dụng trái phép chất ma túy....”

Đối tượng tác động của tội phạm này chính là người sử dụng ma tuý, nếu không có người sử dụng chất ma tuý thì không thể có người phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, người sử dụng chất ma tuý lại không phải là người bị hại mà ngược lại trong một số trường hợp nếu thoả mãn các dấu hiệu của tội sử dụng trái phép chất ma tuý thì họ còn là người phạm tội.

Khách thể của tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là chế độ quản lý của Nhà nước về việc sử dụng chất ma tuý vào các mục đích chữa bệnh và vì vậy, quan hệ xã hội bị xâm phạm còn bao gồm cả tính mạng, sức khoẻ, trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, chủ yếu vẫn là chế độ quản lý về việc sử dụng chất ma tuý.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/06/2020 “V/v thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mấc trong xét xử” của Tòa án nhân dân Tối cáo quy định: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cũng cấp ma túy, địa điểm, phương tiện, công cụ... để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy.”

- Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác.

Trường hợp phạm tội này, người phạm tội thực hiện hành vi của mình như người tổ chức trong vụ án có tổ chức, nhưng việc chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác. Người khác ở đây là người có nhu cầu sử dụng chất ma tuý. Để chỉ huy, phân công và điều hành được các hoạt động đưa chất ma tuý vào cơ thể người khác thì người phạm tội phải có một vị trí nhất định và vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nhất thiết phải là vụ án có tổ chức. Người phạm tội trong trường hợp này thường là những kẻ giấu mặt và việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý được chuẩn bị tương đối chặt chẽ, có người trực tiếp đưa chất ma tuý vào cơ thể người khác, có người canh gác, có người chuyên dẫn giắt các con nghiện đến địa điểm sử dụng trái phép chất ma tuý...

- Thuê địa điểm, mượn địa điểm, sử dụng địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do mình quản lý, cũng như tìm địa điểm để làm nơi đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác

Muốn sử dụng trái phép chất ma tuý thì phải có địa điểm. Tuy nhiên địa điểm để sử dụng trái phép chất ma tuý rất đa dạng. Có thể là những điểm tĩnh như: nhà ở, trụ sở cơ quan, trường học, khách sạn, nhà hàng, quán nước, vườn cây, chòi cá... nhưng cũng có thể trên các phương tiện giao thông như: máy bay, tầu thuỷ, tầu hoả, ô tô, thuyền, bè... Trong các địa điểm trên, có loại thuộc quyền quản lý của Nhà nước, của tập thể, của tổ chức... nhưng có loại thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của cá nhân.

Thuê địa điểm để làm nơi đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác là dùng tiền hoặc tài sản để trả cho người có địa điểm để họ đồng ý cho người phạm tội dùng địa điểm đó để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác. Tuy nhiên, khi thuê địa điểm, người thuê chưa có ý định dùng địa điểm đã thuê để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác nhưng sau khi đã thuê được địa điểm mới sử dụng địa điểm đã thuê để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác thì vẫn bị coi là phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng thuộc trường hợp sử dụng địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do mình quản lý để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác. Mượn địa điểm để làm nơi đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác là bằng lời nói, cử chỉ hoặc bằng những thủ đoạn khác mà không phải đùng tiền hoặc tài sản để người khác đồng ý cho sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của họ, để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác.

Sử dụng địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do mình quản lý để làm nơi đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác là trường hợp người phạm tội sử dụng chính nhà ở, trụ sở cơ quan, trường học, khách sạn, nhà hàng, quán nước, vườn cây, chòi cá... nhưng cũng có thể trên các phương tiện giao thông như: máy bay, tầu thuỷ, tầu hoả, ô tô, thuyền, bè...thuộc quyền sở hữu của mình hoặc đang do mình quản lý để đưa ma trái phép chất ma tuý vào người khác.

Tìm địa điểm để làm nơi đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác là trường hợp không phải thuê, không phải mượn cũng không phải sử dụng địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do mình quản lý để làm nơi đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác mà tìm một địa điểm thuận lợi để làm nơi đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác.

Nếu cho thuê, cho mượn hoặc sử dụng địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do mình quản lý để cho người khác tự đưa chất ma tuý vào cơ thể của họ thì người cho thuê, cho mượn hoặc sử dụng địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do mình quản lý không phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý mà hành vi này là hành vi phạm tội “chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 256 Bộ luật hình sự. Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý với tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Cung cấp trái phép chất ma tuý (trừ hành vi bán trái phép chất ma tuý) cho người khác để họ sử dụng trái phép chất ma tuý.

Đây là trường hợp người phạm tội có chất ma tuý dưới bất kỳ nguồn nào như: mua được, xin được, được cho, được gửi giữ, nhặt được... rồi đem chất ma tuý đó cung cấp cho người khác để họ sử dụng trái phép. Nếu bán chất ma tuý đó cho người khác để họ sử dụng trái phép thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý.

- Chuẩn bị chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ, sản xuất...) nhằm đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp cung cấp trái phép chất ma tuý cho người khác để họ sử dụng trái phép ở chỗ người phạm tội có chất ma tuý dưới bất kỳ nguồn nào như: mua được, xin được, được cho, được gửi giữ, nhặt được... nhưng trường hợp phạm tội này người phạm tội không cung cấp cho người khác để họ sử dụng trái phép chất ma tuý mà nhằm đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác, còn trường hợp phạm tội cung cấp chất ma tuý cho người khác thì chính người được cung cấp chất ma tuý tự đưa chất ma tuý vào cơ thể mình.

- Tìm người sử dụng chất ma tuý cho người tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nhằm đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể của người họ

Trường hợp phạm tội này là trường hợp đã có người tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng vì những động cơ mục đích khác nhau nên người phạm tội đã tìm kiếm, rủ rê người có nhu cầu sử dụng chất ma tuý để cho người tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nhằm đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể họ.

- Chuẩn bị phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào ( mua, xin, tàng trữ, sản xuất...), nhằm dùng chúng để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác

Trường hợp phạm tội này người phạm tội không chuẩn bị chất ma tuý mà chuẩn bị phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý và dùng các phương tiện, dụng cụ này để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác.

Nếu người phạm tội không có mục đích dùng phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác, mà biết các phương tiện, dụng cụ đó dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng vẫn mua, xin, tàng trữ, sản xuất... thì thuộc trường hợp phạm tội quy định tại Điều 254 Bộ luật hình sự (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý).

Chỉ cần xác định người phạm tội có mục đích dùng phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác là người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý mà không phải xác định người phạm tội có trực tiếp phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác.

Hậu quả của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là những thiệt hại cho xã hội, trong đó trực tiếp gây ra những thiệt hại về trật tự an toàn xã hội, tính mạng, sức khoẻ của chính người sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, hậu quả của tội phạm này không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Tội phạm hoàn thành khi có một trong những hành vi nêu trên xảy ra do tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm có cấy thành hành thức.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Bộ luật Hình sự không quy định thế nào là năng lực trách nhiệm hình sự nhưng có quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 21 Bộ luật Hình sự. Theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, người có năng lực trách nhiệm hình sự phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy). Như vậy tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự có chủ thể thực hiện tội phạm phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

Chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân thực hiện tội phạm một mình nhưng cũng có thể là nhiều người cùng thực hiện tội phạm. Trường hợp nhiều người thực hiện cùng một tội phạm được quy định theo Điều 17 Bộ luật Hình sự:

“Điều 17. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.”

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thực hiện hành vi phạm tội của mình do lỗi cố ý trực tiếp, tức là nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện.

Mục đích của người phạm tội là dấu hiệu bắt buộc, tức là người phạm tội mong muốn đưa được chất ma tuý vào cơ thể người khác với nhièu động cơ khác nhau nhưng chủ yếu là vì vụ lợi. Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh mục đích của người phạm tội. Nếu không chứng minh được mục đích của người phạm tội là mong muốn đưa chất ma tuý vào cơ thể của người khác thì không phải là phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, mà tuỳ trường hợp cụ thể người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý; tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán trái phép phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý; tội sử dụng trái phép chất ma tuý...

3. Hình phạt đối với người phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định 05 Khung hình phạt đối với người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như sau:

- Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 02 lần trở lên là đã có tất cả hai lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý trở lên mà mỗi lần phạm tội đều có đầy đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, đồng thời trong số các lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

b) Đối với 02 người trở lên;

Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với 02 người trở lên là trường hợp một lần tổ chức cho hai người trở lên sử dụng trái phép chất ma tuý. Nếu người phạm tội nhiều lần mà mỗi lần tổ chức cho hai người trở lên sử dụng trái phép chất ma tuý, thì vừa thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần vừa phạm tội đối với nhiều người. 

c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

Trường hợp phạm tội này là trường hợp tổ chức cho người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên sử dụng trái phép chất ma tuý.

Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi (chưa đủ 18 tuổi), do đó người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18

Việc xác định tuổi của người sử dụng trái phép chất ma tuý không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người phạm tội mà căn cứ vào tuổi thật của người chưa thành niên. Đây không phải là tình tiết thuộc mặt chủ quan nên dù người phạm tội có nại rằng họ không biết người sử dụng trái phép là người chưa thành niên thì cũng không vì thế mà cho rằng không thuộc trường hợp phạm tội này.

Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 6 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH quy định cách xác định tuổi của nạn nhân dưới 18 tuổi như sau:

Việc xác định tuổi của người bị hại dưới 18 tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau:

+ Giấy chứng sinh;

+ Giấy khai sinh;

+  Chứng minh nhân dân;

+ Thẻ căn cước công dân;

+ Sổ hộ khẩu;

+ Hộ chiếu.

Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định:

+ Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.

+ Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.

+ Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.

+ Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.

d) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

Là trường hợp người phạm tội biết rõ người mình tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là phụ nữ đang có thai (không kể tháng thứ mấy).

Nếu người phụ nữ sử dụng trái phép chất ma tuý có thai thật, nhưng có căn cứ để xác định người phạm tội không biết họ đang có thai thì cũng không thuộc trường hợp phạm tội đối với phụ nữ mà biết là có thai.

Ngược lại, trong trường hợp người phụ nữ sử dụng trái phép không có thai, nhưng người phạm tội tin lầm là có thai nên vẫn tổ chức cho họ sử dụng trái phép chất ma tuý thì vẫn bị coi là phạm tội đối với phụ nữ mà biết là có thai.

đ) Đối với người đang cai nghiện;

Trường hợp phạm tội này là trường hợp người phạm tội tổ chức cho người đang cai nghiện sử dụng trái phép chất ma tuý.

Người đang cai nghiện là người đã nghiện ma tuý đang được cai nghiện ở trong trung tâm cai nghiện hoặc cai nghiện tại nơi ở theo sự chỉ dẫn của cơ quan chuyên môn. Việc đưa người nghiện ma tuý vào các trung tâm cai nghiện có thể theo yêu cầu của gia đình người nghiện, sự tự nguyện của chính bản thân người nghiện hoặc theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Người đang cai nghiện là người nghiện ma tuý bắt đầu cai nghiện và chưa kết thúc thời gian cai nghiện, nếu người nghiện ma tuý đã có quyết định của cơ quan có thẩm quyền đưa vào trung tâm cai nghiện nhưng vì lý do khách quan nên chưa vào trung tâm cai nghiện mà tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho người này thì không thuộc trường hợp phạm tội đối với người đang cai nghiện.

Nếu người tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý không biết người mà mình đưa chất ma tuý vào cơ thể của họ là người đang cai nghiện thì cũng không thuộc trường hợp phạm tội này.

e) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

Căn cứ để đánh giá mức độ thương tích, mức độ rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân là kết quả giám định pháp y theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

Đây là trường hợp do tổ chức sử dụng ma tuý mà người sử dụng hoặc người khác bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng.

Được coi là bệnh nguy hiểm là những bệnh không có khả năng cứu chữa, dễ dẫn đến tử vong hoặc tuy không dẫn đến tử vong nhưng cũng ảnh hưởng nghiêm trong đến sức khoẻ suôt đời.

h) Tái phạm nguy hiểm.

Tái phạm nguy hiểm là trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Như vậy tổ chức sử dụng trái phép chết ma túy trong trường hợp tái phạm nguy hiểm là trường trước đây họ đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà đã tổ chức sử dụng trái phép chết ma túy hoặc trước đây họ đã bị kết án về tội tổ chức sử dụng trái phép chết ma túy, chưa được xóa án tích mà nay lại tiếp tục tổ chức sử dụng trái phép chết ma túy.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

d) Đối với người dưới 13 tuổi.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

b) Làm chết 02 người trở lên.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

4. Vụ án cụ thể xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

Bán án số 19/2021/HS-ST ngày 24/6/2021 “V/v xét xử bị cáo Hoàng Công Ch và đồng phạm phạm tội tàng trữ trái phép chất mà túy và tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.[1]

Tối ngày 17/11/2020, Nguyễn Hà A về nhà Hoàng Công Ch chơi và ngủ lại. Đến 6 giờ 30 phút, ngày 18/11/2020, sau khi ngủ dậy, Ch nói với A góp tiền mua ma tuý về sử dụng, A đồng ý và đưa cho Ch 286.000 đồng; Ch góp thêm 414.000 đồng. Đến khoảng 7 giờ 30 phút cùng ngày, Ch mang theo số tiền 700.000 đồng, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu AirBlade, biển kiểm soát 74D1-179.58 chở con đi học tại trường mầm non thôn Xuân Tam Mỹ, xã Triệu Trung, rồi đi mua ma tuý. Sau khi chở con vào trường, Ch gặp một người thanh niên tên Tài (không rõ địa chỉ, lai lịch cụ thể) đang điều khiển xe mô tô không có biển kiểm soát đi ngang qua khu vực trường mầm non thôn Xuân Tam M, xã Triệu Tr. Biết Tài có bán ma tuý, Ch điều khiển xe chạy theo gọi Tài lại để hỏi mua ma tuý, Ch đưa cho Tài 700.000 đồng và Tài đưa cho Ch 15 viên ma tuý ( 05 viên đựng trong 01 túi nilon trong suốt và 10 viên đựng trong đoạn ống hút nhựa màu tím), Ch cất giấu ma tuý vào người, rồi điều khiển xe về đến nhà Lê Văn  H để lấy quần áo và rủ H về nhà Ch chơi. Khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày, Khi Ch chở H về đến nhà. Thấy A vẫn đang ngủ tại sập gỗ, Ch gọi A dậy, Ch chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma tuýgồm 01 chai nhựa màu trong suốt bên trong có chứa nước và có 01 đoạn ống tre màu vàng đâm xuyên qua thân chai; giấy kẽm và 01 bật lửa màu xanh lá cây. Ch lấy ra 02 viên ma tuý trong túi nilon và cùng A sử dụng, lúc này H không tham gia mà chỉ ngồi nghe nhạc và chơi điện thoại. Đến  10 giờcùng ngày, Ch và A tiếp tục sử dụng ma tuý còn lại, Ch rủ H cùng sử dụng ma tuý, H đồng ý. Ch lấy 03 viên ma tuý còn lại trong túi nilon, chuẩn bị 03 miếng giấy kẽm (gọi là máng) rồi cùng H, A sử dụng. Riêng 10 viên ma tuý đựng trong đoạn ống hút nhựa màu tím, Ch để ở cửa sổ cạnh sập gỗ nơi Ch, A, H ngồi chơi. Đến khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi sử dụng xong 03 viên ma tuý thì Ch, A và H bị tổ công tác Công an huyện Triệu Phong kiểm tra phát hiện 10 viên ma tuý còn lại. Tổ công tác Công an huyện Triệu Phong tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ch, A, H đồng thời tạm giữ toàn bộ tang vật liên quan để điều tra làm rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Triệu Phong đã sử dụng que test nhanh chất ma tuý có trong nước tiểu đối với Hoàng Công Ch, Nguyễn Hà A và Lê Văn H.

Kết quả: có chất ma tuý Methamphetamine trong nước tiểu của Ch, A, H. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Triệu Phong cũng đã tiến hành khám xét khẩn  cấp  chỗ ở của Hoàng  Công  Ch ở thôn Xuân Tam  Mỹ,  xã  Triệu  Trung huyện Triệu Phong nhưng không phát hiện gì thêm.

Tại bản kết luận giám định số 903/KLGĐ ngày 24/11/2020 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 10 viên nén màu hồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 gửi đến giám định có khối lượng 0,9858g là ma tuý loại Methamphetamine.

Các bị cáo biết rõ tác hại của ma túy và việc tàng trữ các chất ma túy là vi phạm pháp luật về hình sự nhưng vẫn cố tình tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân nên dẫn đến phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn, tạo ra tâm lý hoang mang, lo lắng trong đời sống nhân dân. Loại tội phạm này hết sức nguy hiểm và đang có xu hướng gia tăng trong xã hội.Vì vậy,cần xử lý một cách nghiêm khắc đối với các bị cáo mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm nhưng tính chất giản đơn bởi vì không có người tổ chức, cầm đầu. Đối với bị cáo Hoàng Công Ch là người rủ rê Nguyễn Hà A góp tiền vào mua ma tuý với mục đích cùng nhau sử dụng; là người chủ động chuẩn bị phương tiện phạm tội cũng như trực tiếp tìm mua ma tuý; số tiền Ch góp vào để mua ma túy nhiều hơn A (Ch 414.000 đồng; A 286.000 đồng). Do đó, bị cáo có vị trí và vai trò chính trong vụ án. Đối với bị cáo Nguyễn Hà A là người đã thành niên,có trình độ văn hoá, lẽ ra A phải ngăn cản và khuyên bảo để Ch có cách sống đúng mực hơn thì ngược  lại A còn hưởng ứng và tích  cực khi thực hiện hành vi phạm tội như góp tiền mua ma tuý; ở lại nhà Ch để cùng sử dụng ma tuý nhiều lần nên cũng cần xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

Do đó,khi xem xét quyết định hình phạt cần xử phạt bị cáo Hoàng Công Ch với mức hình phạt cao hơn bị cáo Nguyễn Hà A là cần thiết.

Đối với bị cáo Hoàng Công Ch, ngoài hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” như đã phân tích ở trên thì Ch còn sử dụng nhà của mình, cùng góp tiền và trực tiếp đi mua ma tuý; chuẩn bịcác dụng cụ sử dụng ma tuý như chai nhựa, giấy kẽm, bật lửa rồi rồi rũ thêm Lê Văn  H về nhà mình cùng sử dụng ma tuý trái phép.

Vì lẽ đó, Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị quyết định:

- Xử phạt Nguyễn Hà A 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từngày 18/11/2020 đến ngày 27/11/2020.

- Xử phạt: Hoàng Công Ch 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.và 24 (hai mươi bốn) tháng  tù  về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình  phạt  tù  tính  từ ngày  bắt thi hành án được  trừ thời  gian  tạm  giữ từ ngày 18/11/2020 đến ngày 27/11/2020.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết Luật Hình sự Việt Nam

Luật Hoàng Anh


[1] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta734126t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 28/07/2021.

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

So sánh tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy và tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy?

Hỏi đáp luật Hình Sự 27/07/2021

Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy và tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy.

Tổng hợp các bài viết của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Hỏi đáp luật Hình Sự 27/07/2021

Tổng hợp các bài viết của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chủ thể nào có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự?

Hỏi đáp luật Hình Sự 27/07/2021

Bài viết trình bày về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành.

Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong hoạt động tố tụng được quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 27/07/2021

Bài viết trình bày về giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm?

Hỏi đáp luật Hình Sự 28/07/2021

Bài viết trình bày về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm?

Hỏi đáp luật Hình Sự 28/07/2021

Bài viết trình bày về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của pháp luật hiện hành.

Quyết định khởi tố vụ án hình sự được quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 28/07/2021

Bài viết trình bày về quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự được pháp luật hiện hành quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 28/07/2021

Bài viết trình bày về điều kiện, thủ tục thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.