Tội vi phạm các quy định về quản lý nhà ở là gì?

1. Căn cứ pháp lý

Điều 343 Chương XXII Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định tội vi phạm các quy định về quản lý nhà ở như sau:

Điều 343. Tội vi phạm các quy định về quản lý nhà ở

1. Người nào chiếm dụng chỗ ở, xây dựng nhà trái phép, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Nhà ở, công trình xây dựng trái phép có thể bị dỡ bỏ, trưng mua hoặc tịch thu.

2. Người pThạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

2. Dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm các quy định về quản lý nhà ở

Vi phạm các quy định về quản lý nhà ở là hành vi chiếm dụng chỗ ở hoặc xây dựng nhà trái phép.

2.1. Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm này là trật tự quản lý hành chính về nhà ở của Nhà nước.

Các quy định của Nhà nước về quản lý nhà thì có nhiều nhưng người phạm tội chỉ xâm phạm đến các quy định về chỗ ở, về xây dựng nhà ở, còn các quy định khác về nhà không phải là nhà ở thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của tội phạm này.

Điều 6 Luật Nhà ở năm 2014 quy định nghiêm cấm những hành vi sau:

“Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm

...

4. Xây dựng nhà ở trên đất không phải là đất ở; xây dựng không đúng tiêu chuẩn thiết kế, tiêu chuẩn diện tích đối với từng loại nhà ở mà Nhà nước có quy định về tiêu chuẩn thiết kế, tiêu chuẩn diện tích nhà ở...

5. Chiếm dụng diện tích nhà ở trái pháp luật; lấn chiếm không gian và các phần thuộc sở hữu chung hoặc của các chủ sở hữu khác dưới mọi hình thức; tự ý thay đổi kết cấu chịu lực hoặc thay đổi thiết kế phần sở hữu riêng trong nhà chung cư.”

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm bao gồm 02 hành vi: chiếm dụng chỗ ở trái phép hoặc hành vi xây dựng nhà ở trái phép.

Chiếm dụng chỗ ở trái phép là hành vi lén lút hoặc ngang nhiên vào chỗ ở của người khác và sử dụng như chỗ ở của mình như: vào ở nhà vắng chủ không được phép của chủ nhà hoặc của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (nhảy dù). Hoặc cũng có thể là hành vi dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực đuổi người khác ra khỏi nhà rồi vào nhà đó để ở; lừa dối chủ nhà để chủ nhà ra khỏi nhà rồi vào nhà đó để ở; lợi dụng lúc chủ nhà đi vắng, dọn đồ đạc của chủ nhà ra khỏi nhà rồi dọn đò của mình vào nhà đó ở...

Chiếm dụng là chiếm và sử dụng như là của mình. Nều chỉ chiếm mà không sử dụng thì không thuộc trường hợp vi phạm quy định về quản lý nhà mà tuỳ trường hợp họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “xâm phạm chỗ ở của người khác” theo quy định tại Điều 158 Bộ luật Hình sự.

Chỗ ở được hiểu là nơi con người sinh sống, sinh hoạt hàng ngày, bao gồm: nhà ở và các công trình phụ như: bếp, nhà vệ sinh, nhà tắm…; chỗ ở còn là những nơi ở thường xuyên của một người, một gia đình mà đó được coi như là nhà ở như: Tầu, thuyền, giường ngủ trong khu ký túc xá sinh viên...

Xây dựng nhà ở trái phép là hành vi làm nhà ở mà không có giấy phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc không đúng với giấy phép trong trường hợp Nhà nước quy định việc làm nhà ở phải có giấy phép. Việc xây dựng nhà ở trái phép chỉ có thể xảy ra trong trường hợp Nhà nước quy định việc xây dựng nhà ở phải xin phép, còn đối với những nơi việc làm nhà của người dân không cần phải xin phép thì không xảy ra hành vi này.

Xây dựng nhà ở trái phép còn bao gồm cả hành vi sửa chữa nhà đang được sử dụng vào mục đích khác thành nhà ở không được phép như: Sửa văn phòng làm việc, trường học, trụ sở cơ quan thành nhà ở; sửa đình, chùa, miếu, nhà thờ thành nhà ở...

Hậu quả của tội phạm không phải dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, người thực hiện hành vi khách quan của bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về quản lý nhà ở khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Trường hợp người thực hiện hành vi vi phạm quản lý về nhà ở lần đầu, tuy không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vẫn bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kĩ thuật; kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kĩ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này không phải chủ thể đặc biệt. Bất kì ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội vi phạm các quy định về quản lý nhà ở. Họ có thể là người Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không quốc tịch.

Ngoài ra, chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn điều điện là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.

Bộ luật Hình sự không quy định thế nào là năng lực trách nhiệm hình sự nhưng có quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 21 Bộ luật Hình sự. Theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, người có năng lực trách nhiệm hình sự phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều nhưng không có điều nào thuộc Chương XXII Bộ luật hình sự. Như vậy chủ thể của tội vi phạm các quy định về quản lý nhà ở là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Đối với tội phạm này, người phạm tội thực hiện hành vi của mình là do cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Tức là người phạm tội nhận thức được hành vi của minh là chiếm dụng chỗ ở của người khác hoặc hành vi của mình là hành vi xây dựng nhà trái phép, mặc dù đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội phạm này, nhưng vẫn cố tình vi phạm. Việc nhà làm luật quy định dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội phạm này mà còn vi phạm” là thể hiện sự cố ý của người phạm tội rồi.

3. Hình phạt đối với người phạm tội vi phạm các quy định về quản lý nhà ở

Điều 343 Bộ luật Hình sự quy định 02 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Người nào chiếm dụng chỗ ở, xây dựng nhà trái phép, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Nhà ở, công trình xây dựng trái phép có thể bị dỡ bỏ, trưng mua hoặc tịch thu.

- Khung hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết về Bộ luật Hình sự

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy vật hoặc tài liệu bí mật nhà nước là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/09/2021

Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy vật hoặc tài liệu bí mật nhà nước quy định tại Điều 337 BLHS.

So sánh tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước với tội vô ý làm lộ bí mật công tác?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/09/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước với tội vô ý làm lộ bí mật công tác.

Tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước; tội làm mất vật, tài liệu bí mật nhà nước là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/09/2021

Tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước; tội làm mất vật, tài liệu bí mật nhà nước quy định tại Điều 338 BLHS.

Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/09/2021

Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác quy định tại Điều 339 BLHS.

Tội sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/09/2021

Tội sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 340 BLHS.

Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/09/2021

Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức quy định tại điều 341 BLHS

So sánh tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác với tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/09/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác với tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức..

So sánh tội vi phạm quy định về quản lý nhà ở và tội xâm phạm chỗ ở của người khác?

Hỏi đáp luật Hình Sự 24/09/2021

Trong bài viết này, Luật Hoàng Anh sẽ so sánh tội vi phạm quy định về quản lý nhà ở và tội xâm phạm chỗ ở của người khác.