Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác là gì?

Hàng ngày, con người tiếp nhận vô số thông tin khác nhau, có những thông tin có thể công khai nhưng cũng rất nhiều thông tin cần được bảo mật. Thông tin cá nhân nếu bị tiết lộ ra bên ngoài, người bị tiết lộ có thể bị xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Do đó, pháp luật hình sự đặt ra quy định về tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 159 thuộc Chương XV Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác như sau:

Điều 159. Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;

b) Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;

c) Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;

d) Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;

đ) Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác;

đ) Làm nạn nhân tự sát.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

2. Dấu hiệu pháp lý của tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác

2.1. Khách thể của tội phạm

Khoản 2 Điều 21 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.

Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.”

Quyền an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân còn được cụ thể hoá bởi những quy định tại Điều 12 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

“Điều 12. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân

Không ai được xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân.

Việc khám xét chỗ ở; khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.”

Đối tượng tác động của tội phạm này là thư, điện báo, telex, fax, các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính.

Thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính bị xâm phạm là thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính của công dân ( cá nhân), chứ không phải của Nhà nước và tổ chức. Nếu thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính của Nhà nước hoặc tổ chức thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này mà tuỳ trường hợp cụ thể mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội tương ứng. Ví dụ người phạm tội thu thập thư, điện báo,... của cơ quan nhà nước nhằm mục đích chống phá nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì có thể bị xử lý về tội gián điệp (Điều 110 Bộ luật Hình sự).

Người nước ngoài công tác và sinh sống ở Việt Nam nếu tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam mà bị xâm phạm bị mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín cũng được bảo hộ như công dân Việt Nam.

Như vậy, khách thể của xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác là quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân của con người.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác bao gồm các hành vi:

a) Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào.

Đó là hành vi lấy trái phép và chiếm giữ về cho mình thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông. Đó là hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác công khai hoặc bí mật để chiếm lấy những thứ nêu trên của người khác về cho mình vì động cơ cá nhân. Cũng giống như hành vi chiếm đoạt tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu là lấy đi, nhưng tính chất chiếm đoạt ở đây khác chiếm đoạt tài sản ở chỗ, người phạm tội có thể lấy thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính cho mình, nhưng cũng có thể chỉ lấy rồi vứt đi, mà không chiếm hữu sử dụng.

Thư từ, điện tín có thể là để ngỏ hay dán kín; có thể là ở thùng thư, bưu điện hay ở nhà riêng, đang do mình có trách nhiệm chuyển giao hay lừa người khác nhận chuyển hộ rồi chiếm đoạt. Hành vi xâm phạm an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác còn thể hiện như tịch thu trái phép thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác...

b) Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông.

Làm hư hỏng là không còn nguyên vẹn hoặc hỏng hoàn toàn thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác. Hành vi này rất đa dạng về cách thức thực hiện như tiêu hủy, đốt, xé, xóa thư, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác.

Thất lạc thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác là không hành động theo trình tự, không đưa những đối tượng trên đến địa điểm cần đến.

Cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác là không làm hư hỏng, ảnh hưởng đến hành trình, đường đi của thư tín nhưng lại sao chép, ghi lại nội dung của thông tin trong thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác.

c) Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật.

Đây là hành vi bí mật nghe trộm điện thoại của người khác hoặc dùng thiết bị để ghi âm lại cuộc gọi của người khác.

d) Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật.

Đây là hoạt động có thể công khai hoặc bí mật lục soát người, chỗ ở, đồ vật để thu giữ thư tín, điện tín,...

đ) Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.

Hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác qua mạng xã hội, sử dụng các dạng truyền tin bằng chữ, hình ảnh, âm thanh qua: Facebook, Zalo, Viber,...

Các hành vi xâm phạm bí mật an toàn thư tín, điện báo,... nêu trên phải là hành vi trái pháp luật. Khi xác định có phải là hành vi phạm tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hay không cần phải đối chiếu với các quy định về bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của các cơ quan chức năng chuyên ngành như: Tổng cục bưu điện, Tổng công ty viễn thông...

Tuy không phải là hành vi, nhưng lại là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm này, đó là đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện bưu chính và máy tính.

Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm là  trước đó đã có lần xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác, đã bị xử lý bằng một trong những hình thức kỷ luật theo quy định của Nhà nước hoặc theo quy định trong Điều lệ của tổ chức và chưa hết thời hạn được xoá kỷ luật, nay lại có hành vi xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác. Nếu trước đó người phạm tội tuy có bị xử lý kỷ luật, nhưng về hành vi khác không phải là hành vi xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác thì cũng không cấu thành tội phạm này.

Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm là trước đó đã có lần xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác, đã bị xử phạt hành chính bằng một trong những hình thức xử phạt hành chính hoặc bằng một trong những hình thức xử lý hành chính khác theo quy định của Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, nay lại có hành vi xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác. Nếu trước đó người phạm tội tuy có bị xử lý hành chính, nhưng về hành vi khác không phải là hành vi xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác thì cũng không cấu thành tội phạm này.

Hậu quả của tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác là gây ra những thiệt hại về vật chất và tinh thần cho con người hoặc gây ra những thiệt hại về an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Những thiệt hại này có thể tính ra được bằng tiền, nhưng cũng có thể không tính ra được bằng tiền.

Hậu quả của hành vi xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác, trước hết làm cho thư tín, điện thoại, điện tín không còn giữ được bí mật hoặc không đến được người nhận và do không giữ được bí mật hay không đến được người nhận nên có thể gây ra hậu quả khác về vật chất hoặc tinh thần cho người khác.

Tội phạm hoàn thành khi hậu quả bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín bị xâm phạm, nên chỉ cần xác định thư tín, điện thoại, điện tín bị lộ, bị chiếm đoạt hoặc bị xâm phạm, còn các hậu quả khác như gây thiệt hại về vật chất hay tinh thần của nạn nhân không có ý nghĩa định tội danh, chỉ mang ý nghĩa quyết định hình phạt.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Cũng như chủ thể của các tội phạm khác, chủ thể của tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác cũng phải đảm bảo các yếu tố cần và đủ như: độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại các Điều 12 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên đối với tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác chỉ những người đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội phạm này, còn người dưới 16 tuổi không phải là chủ thể của tội phạm này, vì tội phạm này cả khoản 1 và khoản 2 đều là tội phạm ít nghiêm trọng. Người phạm tội cũng phải có đầu đủ năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi. Trường hợp người phạm tội không có hoặc bị hạn chế năng lực trách nhiệm hình sự thì không phải chủ thể của tội phạm này theo Điều 21 Bộ luật Hình sự.

Nói chung chủ thể của tội phạm này là bất kỳ, nhưng trong một số trường hợp người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn nhất định. Đối với những người này, thông thường phạm tội thuộc trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn, cá biệt có trường hợp vì động cơ cá nhân hoặc vụ lợi mà xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Người phạm tội hoàn toàn nhận thức được hậu quả bí mật an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác bị xâm hại nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi xâm phạm hoặc không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng lại có ý thức bỏ mặc để hậu quả đó xảy ra.

Động cơ của tội phạm này rất đa dạng, có thể vì để xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xâm hại như bí mật kinh doanh,... nhưng cũng có thể vì lý do cá nhân như tò mò, ghen tuông,...

3. Hình phạt đối với tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác

Điều 159 Bộ luật Hình sự quy định 03 khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Khung hình phạt phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm đối với người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm:

a) Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào;

b) Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông;

c) Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;

d) Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật;

đ) Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.

- Khung hình phạt phạt tù từ 01 năm đến 03 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có tổ chức;

Cũng như các trường hợp phạm tội có tổ chức khác, xâm phạm thư tín, điện thoại, điện tín của người khác có tổ chức là trường hợp có nhiều người cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau,vạch kế hoạch để thực hiện hành vi xâm phạm thư tín, điện thoại, điện tín của người khác, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu.

Xâm phạm thư tín, điện thoại, điện tín của người khác có tổ chức là một hình thức đồng phạm, có sự phân công, sắp đặt vai trò của những người tham gia, trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu.

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ.

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để xâm phạm thư tín, điện thoại, điện tín của người khác là do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện và hành vi phạm tội đó, có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của họ; nếu họ không có chức vụ, quyền hạn đó thì họ khó có thể thực hiện việc chiếm đoạt thư, điện báo, telex. fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính; chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện tội phạm một cách dễ dàng. Tuy nhiên, người phạm tội có việc lợi dụng chức vụ để phạm tội thì mới bị coi là có tình tiết tăng nặng định khung. Nếu tội phạm do họ thực hiện không liên quan gì đến chức vụ, quyền hạn của họ thì dù họ có chức vụ, quyền hạn thì cũng không thuộc trường hợp phạm tội này.

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

Là trường hợp xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác từ hai lần trở lên và mỗi lần xâm phạm đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác. Nếu xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác từ hai lần trở lên, nhưng chưa có lần nào bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính thì hành vi xâm phạm chưa cấu thành tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác. Nếu có hai lần xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác, trong đó có một lần đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính thì hành vi xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác mới cấu thành tội phạm và thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 159 Bộ luật hình sự, chứ không thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần.

d) Tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác;

Đây là trường hợp công khai cho nhiều người biết những thông tin bí mật đã bị chiếm đoạt của nạn nhân. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nạn nhân.

đ) Làm nạn nhân tự sát.

Đây là trường hợp do bị xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của nạn nhân khiến nạn nhân cảm thấy chán nản, bị quẫy nhiễu do thông tin cá nhân bị lộ, nạn nhân không còn mong muốn sống tiếp nên đã tự sát. Giữa hành vi tự sát của nạn nhân và hành vi phạm tội của người phạm tội phải có mối quan hệ nhân quả.

- Khung hình phạt bổ sung đối với người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 01/07/2021

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại Điều 52 BLHS

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 14/07/2021

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 BLHS

Trường hợp nào không áp dụng thi hành bản án?

Hỏi đáp luật Hình Sự 01/07/2021

Các trường hợp không áp dụng thời hiện thi hành bản án quy định tại Điều 61 BLHS

Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/07/2021

Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân quy định tại Điều 161 BLHS