Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới là gì?

Trái ngược với xã hội phong kiến cổ hủ, lạc hội, xã hội Việt Nam hiện nay luôn kêu gọi sự bình đằng đối với nam và nữ. Điều này được quy định là một quyền trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, bất kì ai xâm phạm đến quyền này đều bị xử lý theo quy định pháp luật.

1. Căn cứ pháp lý

Điều 165 thuộc Chương XV Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) quy định tội xâm phạm quyền bình đẳng giới như sau:

“Điều 165. Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới

1. Người nào vì lý do giới mà thực hiện hành vi dưới bất kỳ hình thức nào cản trở người khác tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có những thay đổi so với quy định tại Điều 130 Bộ luật Hình sự năm 1999. Nếu tội phạm tại Điều 130 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ thì Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ quy định đó là tội xâm phạm đến quyền bình đẳng giới nói chung. Như vậy Bộ luật Hình sự 2015 đã gián tiếp khẳng định sự ngang hàng, bình đằng ở cả giới tính nam và nữ, bất kì giới tính nào bị xâm phạm cũng đều được pháp luật bảo vệ.

2. Dấu hiệu pháp lý của tội xâm phạm quyền bình đẳng giới

2.1. Khách thể của tội phạm

Theo Liên Hợp Quốc, bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và đàn ông được hưởng những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ quyền con người và có cơ hội đóng góp, thụ hưởng những thành quả phát triển của xã hội nói chung. Do đó, bình đẳng giới đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của một đất nước nhằm hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Cùng với xu thế chung ấy, cho đến nay, Việt Nam đã tham gia nhiều điều ước quốc tế về bình đẳng giới, trong đó gồm cả những điều ước quốc tế về nhân quyền nói chung và những điều ước quốc tế về bình đẳng giới nói như: Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) năm 1948; Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) năm 1979; Tuyên bố của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ năm 1993;… Pháp luật Việt Nam cũng cụ thể hóa những quy định tại các điều ước quốc tế trên thông qua Điều 26 Hiến pháp năm 2013:

“Điều 26.

1. Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới.

2. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.

3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.”

Đặc biệt, do ảnh hưởng từ tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn sót lại, phụ nữ đôi khi vẫn phải chịu sự đối xử bất công hơn so với nam giới nên pháp luật đặc biệt quy định: “Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội”. Điều này không có nghĩa rằng nam giới đang bị đối xử bất công hơn so với nữ giới hay về mặt pháp luật nữ giới được ưu tiên hơn. Quy định này hoàn toàn khớp với quy định của Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) năm 1979. Công ước CEDAW kêu gọi các quốc gia thành viên áp dụng tất cả những biện pháp thích hợp để xóa bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ do bất kỳ cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp nào tiến hành.

Tuyên bố của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ năm 1993 nhấn mạnh và làm rõ thêm các quy định của Công ước CEDAW:

“Điều 3.

Phụ nữ có quyền được hưởng thụ một cách bình đẳng và được bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của con người trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và dân sự hay bất kỳ lĩnh vực nào khác. Những quyền này bao gồm:

1. Quyền sống;

2. Quyền được bình đẳng;

3. Quyền được tự do và an ninh cá nhân;

4. Quyền được pháp luật bảo vệ bình đẳng;

5. Quyền không bị phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào;

6. Quyền được hưởng tiêu chuẩn cao nhất có thể đạt được về thể chất và trí tuệ;

7. Quyền có điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi;

8. Quyền không bị tra tấn, hoặc đối xử hay trừng phạt dã man, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm.”

“Điều 4.

Các quốc gia cần lên án bạo lực đối với phụ nữ và không được áp dụng bất kỳ tập quán, truyền thống hay ràng buộc về tôn giáo nào nhằm tránh những nghĩa vụ của mình về xóa bỏ bạo lực với phụ nữ. Các quốc gia cần theo đuổi, thông qua những biện pháp thích hợp và không được trì hoãn, một chính sách xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ, và nhằm đạt được điều này...”

Xâm phạm quyền bình đẳng giới là hành vi xâm phạm đến sự bình đẳng về mọi mặt của nam và nữ, có sự phân biệt đối xử giữa giới tính nam và nữ, nhất việc đối xử bất công với phụ nữ.

Như vậy, khách thể của tội phạm là quyền bình đẳng giới của con người và các quy định của pháp luật, các Điều ước Quốc tế mà Việt Nam là nước thành viên hoặc tham gia kí kết.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi dưới bất kỳ hình thức nào cản trở người khác tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế.

Hành vi dưới bất kì hình thức nào có thể dưới dạng hành động hoặc không hành động nhưng chủ yếu dưới dạng hành động. Có thể là hành vi dùng vũ lực hoặc những hành vi nghiêm trọng khác gây cản trở người khác tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế.

Dùng vũ lực đối với người khác để cản trở họ không được tham gia các hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế là dùng sức mạnh thể chất tác động vào thân thể của nạn nhân như: đánh, trói, nhốt trong buồng, trong hầm để nạn nhân không tham gia được các hoạt động kể trên.

Hành vi nghiêm trọng khác cản trở người khác tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế là hành vi không phải là vũ lực nhưng cũng làm cản trở được phụ tham gia các hoạt động trên như: đe doạ dùng vũ lực, đe doạ sẽ gây thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần nạn nhân như: doạ sẽ ly hôn nếu cứ tham gia, doạ công bố bí mật đời tư, doạ đuổi việc, cắt tiền thưởng, tiền lương...

Đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm

Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm là trước đó đã có lần xâm phạm quyền bình đẳng giới, đã bị xử lý bằng một trong những hình thức kỷ luật theo quy định của Nhà nước hoặc theo quy định trong Điều lệ của tổ chức và chưa hết thời hạn được xoá kỷ luật, nay lại có hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của con người. Nếu trước đó người phạm tội tuy có bị xử lý kỷ luật, nhưng về hành vi khác không phải là hành vi xâm phạm quyền bình đẳng giới thì cũng không cấu thành tội phạm này.

Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm là trước đó đã có lần xâm phạm quyền bình đẳng giới của người khác, đã bị xử phạt hành chính bằng một trong những hình thức xử phạt hành chính hoặc bằng một trong những hình thức xử lý hành chính khác theo quy định của Luật Xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính, nay lại có hành vi xâm phạm quyền bình đẳng giới của con người. Nếu trước đó người phạm tội tuy có bị xử lý hành chính, nhưng về hành vi khác không phải là hành vi xâm phạm quyền bình đẳng giới của con người thì cũng không cấu thành tội phạm này.

Hâu quả của tội xâm phạm quyền bình đẳng của con người là những thiệt hại do hành vi cản trở người khác tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế.

Những thiệt hại này có thể là thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần, nhưng chủ yếu là thiệt hại về tình thần mà trực tiếp là các quyền của con người bị xâm phạm. Nếu có thiệt hại về vật chất thì những thiệt hại đó chỉ là gián tiếp do hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của con người gây ra. Một số trường hợp những thiệt hại về vật chất lại do hành vi cản trở người khác tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội gây ra thì tuỳ trường hợp cụ thể mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng. Ví dụ: Vì không muốn cho vợ tham gia đội văn nghệ của cơ quan, nên A đã túm tóc đánh chị B làm cho chị B không tham gia đội văn nghệ được. Hành vi dùng vũ lực của người phạm tội đối với nạn nhân là hành vi chưa gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân tới mức cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (dưới 11%) thì cấu thành tội xâm phạm quyền bình đẳng giới. Nếu tỷ lệ thương tật tới mức trên 11%, cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tôi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là bất kì ai từ đủ 16 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ, có thể là cá nhân phạm tội nhưng cũng có thể là vụ án đồng phạm. Trong trường hợp là vụ án đồng phạm, các chủ thể có thể cùng là người thực hành, cùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Nhưng cũng có thể có sự phân chia nhiệm vụ đối với từng đồng phạm như người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Thông thường người phạm tội thường là người khác giới đối với nạn nhân. Thực tế thường thấy đó là người phụ nữ bị đối xử bất bình đẳng do quan niệm trọng nam khinh nữ. Cá biệt ở một số dân tộc ở Việt Nam vẫn theo chế độ mẫu hệ, đề cao vai trò người phụ nữ dẫn đến tình trạng trọng nữ khinh nam.

Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 16 tuổi trở lên là chủ thể của tội phạm này. Điều luật cũng quy định trách nhiệm hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Tuy nhiên cả 02 Khoản của Điều 165 quy định tội xâm phạm quyền bình đẳng giới đều thuộc nhóm tội phạm ít nghiêm trọng. Do đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Chủ thể của tội phạm còn phải là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi. Nếu người phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc bị hạn chế năng lực trách nhiệm hình sự thì có thể được loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới được thực hiện do lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi cản trở người khác tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra hoặc nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xẩy ra.

Người phạm tội xâm phạm quyền bình đẳng giới có nhiều động cơ khác nhau; động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, nên việc xác định động cơ phạm tội của người phạm tội chỉ có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt.

Mục đích của người phạm tội là mong muốn người khác giới không tham gia được các hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế.

3. Hình phạt đối với người phạm tội xâm phạm quyền bình đẳng giới

Điều 165 Bộ luật Hình sự quy định 03 khung hình phạt đối với dười phạm tội như sau:

- Khung hình phạt phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm đối với người nào vì lý do giới mà thực hiện hành vi dưới bất kỳ hình thức nào cản trở người khác tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

- Khung hình phạt phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ.

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để xâm phạm quyền bình đẳng giới là do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện và hành vi phạm tội đó, có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của họ; nếu họ không có chức vụ, quyền hạn đó thì họ khó có thể thực hiện việc xâm phạm quyền bình đẳng giới; chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện tội phạm một cách dễ dàng. Tuy nhiên, người phạm tội có việc lợi dụng chức vụ để phạm tội thì mới bị coi là có tình tiết tăng nặng. Nếu tội phạm do họ thực hiện không liên quan gì đến chức vụ, quyền hạn của họ thì dù họ có chức vụ, quyền hạn thì cũng không thuộc trường hợp phạm tội này.

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

Đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện tội phạm từ 02 lần trở lên, chưa được xóa án tích

c) Đối với 02 người trở lên.

Đây là trường hợp người phạm tội xâm phạm quyền bình đẳng giới của 02 người trở lên.

- Khung hình phạt bổ sung, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/07/2021

Tội xâm phạm chỗ ở của người khác quy định tại Điều 158 BLHS

Phân biệt tội xâm phạm quyền của công dân về bầu cử, ứng cử hoặc biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân với tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/07/2021

Phân biệt tội xâm phạm quyền của công dân về bầu cử, ứng cử hoặc biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân với tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân

Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/07/2021

Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật quy định tại Điều 162 BLHS

Áp dụng quy định của Bộ luật hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 05/07/2021

Áp dụng quy định của Bộ luật hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều 74 BLHS